Tiểu luận NHÌN LẠI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (2011-2012) GỢI Ý CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHỮNG NĂM TIẾP THEO Nhóm nghiên cứu Học viện Chính sách Phát triển: PGS. Đào Hùng TS.Nguyễn Thạc Hoát TS. Nguyễn Trọng Nghĩa ThS. Nguyễn Thế Vinh ThS.
Nguyễn Việt Anh 1 Việt Nam bước vào giai đoạn 2011-2012 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Lạm phát của thế giới có xu hướng tăng lên, trong đó giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ (bản đầu vào của sản xuất), giá lương thực, và thực phẩm trên thế giới tăng cao.Trong khi đó, vào năm 2011, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008- 2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta. Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội về phát triển kinh tế xã hội, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện rõ trong các nghị quyết của Chính phủ 2011-20121.
NHNN đã ban hành các văn bản chỉ đạo2 triển khai thực hiện CSTT, điều hành nhất quán, kiên định theo các định hướng mục tiêu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và nhiệm vụ đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng(TCTD). Về CSTT giai đoạn trước năm 2010 đã được đề cập trong nhiều công trình, dự án nghiên cứu cụ thể.Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu của CSTT trong năm 2011 và 2012.Những số liệu liên quan đến thời kỳ trước được sử dụng để phân tích, so sánh để làm rõ hơn CSTT 2011-2012. 1 Nghị quyết 01/2011/NQ-CP; Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, ngày 24/2/2011; Nghị quyết 01/2012/NQ-CP; Nghị quyết 13/2012/NQ-CP 2 Chỉ thị 01/2011/CT-NHNN, ngày 4/3/2011; Chỉ thị 01/2012/CT-NHNN; Công văn 3739/NHNN ngày 20/6/2012 thực hiện NQ 13; Chỉ thị 06/2012/CT-NHNN ngày 9/11/2012 2 I. ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2011-2012 1.
Mục tiêu hàng đầu của CSTT: Thời kỳ 1997-2010, theo quy định của Luật NHNN 19973, quy định rõ quan điểm CSTT đa mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống xã hội. Thời kỳ 2011-2012, Luật NHNN 20104, có hiệu lực từ 1/1/2011, chỉ quy định một mục tiêu của CSTT, đó là:ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát. Theo luật NHNN 2010, thì mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng của CSTT của Việt Nam hiện nay là: Ổn định giá trị đồng tiền. Đây là sự đổi mới, hoàn thiện đúng hướng của CSTT ở VN, theo hướng CSTT đơn mục tiêu, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Nghiên cứu quá trình hoạch định và thực mục tiêu kiểm soátlạm phát thời kỳ 2004-2012 cho thấy: Bảng 1.Lạm phát: Mục tiêu và kết quả thực hiệngiai đoạn 2004-2012 Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Mục tiêu <5 <6.1 7* Nguồn: Tổng cục Thống kê, * Ước thực hiện Đồ thị 1: Lạm phát: Mục tiêu và kết quả thực hiện giai đoạn 2004-2012 3 Điều 2, Luật NHNN số 06/1997/QH, ngày 12/12/1997 4 Điều 3, Luật NHNN số 46/2010/QH12 3 Chỉ tiêu lạm phát mục tiêu 2011 đặt ra với mức kỳ vọng cao hơn nhiều so với thực tế, gây áp lực lớn cho điều hành CSTT và buộc phải sử dụng công cụ, các biện pháp hành chính, ngắn hạn, gây sốc cho nền kinh tế. Năm 2011 lạm phát mục tiêu đề ra <7 %/năm, thấp hơn nhiều so với mức lạm phát thực tế bình quân của 3 năm trước đó 2008-2010 (12. Điều này cho thấykỳ vọng quá cao của chính phủ, muốn ổn định nhanh kinh tế vĩ mô. Do vậy, NHNN bắt , buộc phải cắt giảm cung tiền và giảm tăng trưởng tín dụng đột ngột, gây ra các hệ quả không như mong muốn: lãi suất cho vay và nợ xấu tăng cao, thanh khoản của hệ thống Ngân hàng căng thẳng, thị trường chứng khoán suy kiệt, thị trường bất động sản đóng băng, nhưng lạm phát thực tế vẫn ở mức quá cao 18.
Nguyên nhân của mức lạm phát năm 2011 quá cao so với mục tiêu đề ra (<7%) là do những hệ quả , tất yếucủa việc mở rộng cung tiền quá mức và tăng trưởng tín dụng quá nóng trong giai đoạn trước đó và một phần xuất phát từ việc điều hành CSTT thiếu chủ động; Xét về phía tổng cầu, tính trung bình, cung tiền M2 và tín dụng tăngkhoảng 31.17% cho giai đoạn 2004-2010.Như vậy, trong giai đoạn 2004-2010, tăng trưởng cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng của Việt Nam là khá cao. Điều này sẽ dẫn đến những hệ lụy liên quan đến ổn định vĩ mô và lạm phát cho những năm tiếp theo. Xét từ phía điều hành CSTT:Trước tình hình lạm phát quý I/2011 ở mức cao(bình quân hơn2%/tháng), ngày 24/2/2011 NQ 11/NQ-CP mới được ban hành và ngày 1/3/2011, chỉ thị 01/CT-NHNN triển khai thực hiện NQ11 mới ra đời., Như vậy, việc châm trễ trong thực thi chính sách và những độ trễ nhất định 4 trong điều hành chính sách cũng dẫn đến những ảnh hưởng nhất định tới lạm phát.Nếu các Nghị quyết và chỉ thị nói trên được ban hành vào cuối năm 2010, thì hiệu quả kiềm chế lạm phát năm 2011 chắc sẽ đạt được kết quả khả quan hơn. Chỉ tiêu lạm phát mục tiêu năm 2012 đặt ra < 10% là sự lựa chọn hợp lý so với mức lạm phát thực tế các năm trước và thực trạng nền kinh tế.
Kết quả kiểm soát lạm phát 2012 ước đạt ở mức 7% là thành công bước đầu.Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở mức thấp trong điều kiện nền kinh tế đang khó khăn, tổng cầu suy giảm quá mức sẽ gây những khó khăn cho kinh tế vĩ mô.Nếu tỷ lệ lạm phát 2012 ở mức 9% thì hiệu quả của CSTT đạt được sẽ cao hơn rất nhiều. Nhìn lạichỉ tiêulạm phát thực tế bình quân (2004-2012) là 11.16%/, lạm phát mục tiêu bình quân 2004-2012 là 8.6%/năm và thực trạng nền kinh tế thì mục tiêu kiểm soát lạm phát 2012 đề ra <10% là có cơ sở thực tiễn và quan điểm chính sách phù hợp. Mục tiêu lạm phát 2012 được Quốc hội đề ra <10%; đến cuối tháng 4/2012 Bộ chính trị đặt ra mục tiêu tiếp tục kiềm chế lạm phát năm 2012 ở mức 8-9% là một quyết sách đúng đắn, nhạy bén, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô5. Việc điều hành tỷ lệ lạm phát 2012 đạt mức thấp, là tấm huân chương 2 mặt, trong đó có mặt hạn chế là: phải trả giá bằng giản thời gian điều chỉnh giá một số hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước định giá và kiểm soát giá (y tế, giáo dục, nước sạch, xe buýt) theo chỉ thị 25/2012/CT-TTg ngày 26/9/2012 và chưa hỗ trợ cải thiện được thực trạng tổng cầu nền kinh tế giảm, SXKD khó khăn, thất nghiệp tăng.
Xu hướng lạm phát 2011-2012 là sự lặp lạivòng xoáy lạm phát từ 2004- 2012, theo chu kỳ 3 năm 1 lần: 2 năm tăng vọt lên và 1 năm giảm xuống sâu đột ngột. Điều này cho thấy, kết quả kiểm soát lạm phát chỉ mang tính thời điểm, không ổn định và chưa vững chắc, các yếu tố gây nên lạm phát cao chưa giải quyết được tận gốc rễ. 5 Kết luận của Bộ chính trị tại cuộc họp ngày 26/4/2012 5 Giai đoạn 2004-2012, trong 9 năm, xẩy ra 3 vòng xoáy lạm phát lặp lại cùng 1 xu hướng: 2004-2006: 9. Đánh giá một cách khách quan, toàn diện cho thấy:Những nguyên nhân chủ quan làm bùng phát lạm phát cao từ trước đến nay do bất cập trong điều hành CSTT đã bộc lộ rõ và đã khắc phục ngày càng tốt hơn trong giai đoạn 2011-2012.
Đối với các nguyên nhân khách quan của nền kinh tế, gây áp lực tạo nên lạm phát cao ở nước ta vẫn còn nguyên. Đó là những yếu tố gây nên áp lực lạm phát chi phí đẩy của nền kinh tế như: xu thế giá cả hàng hóa thế giới ngày càng tăng cao với một nền kinh tế có tỷ lệ nhập khẩu/GDP cao hơn 80%; sự tăng lên của chi phí sản xuất do cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng, quản lý kém hiệu quả và yêu cầu phải điều chỉnh tăng tiền lương; sự tăng giá các mặt hàng chủ chốt và dịch vụ thiết yếu do quá trình điều chỉnh giá bao cấp sang giá thị trường của các hang hóa, dịch vụ Nhà nước quản lý và kiểm soát giá. Như vậy, thách thức lớn nhất đối với vấn đề kiểm soát lạm phát và điều hành CSTT của Việt Nam trong năm 2013 và những năm tới là từ các yếu tố gây nên lạm phát chi phí đẩy chứ không phải nguy cơ từ các yếu tố cầu kéo và các nguyên nhân khác. Từ các phân tích nói trên, có thể rút ra một số quan điểm để xây dựng và thực hiện có hiệu quả mục tiêu cao nhất của CSTT ở VN sau đây: - Hoạch định mục tiêu kiểm soát lạm phát không thể xây dựng theo chỉ tiêu hàng năm như hiện nay, mà phải được hoạch định trong cả thời kỳ trung và dài hạn, chia ra từng năm, theo một lộ trình phù hợp với quá trình tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng của nền kinh tế;lựa chọn tối ưu mục tiêu ngắn hạn, trung và dài hạn.
- Kiểm soát chặt chẽ các yếu tố gây nên áp lực tăng tổng cầu quá mức, ngăn ngừa tái lập nguy cơ lạm phát tiền tệ từ kênh tín dụng, tài khóa và cung tiền. - Điều hành không để xẩy ra việc tăng tổng cầu dồn dập, tập trung vào một thời điểm, đặc biệt là điều chỉnh tăng tiền lương và các loại giá hàng hóa dịch vụ từ giá bao cấp sang cơ chế giá thị trường, không làm cho giá cả bị đẩy lên. 6 - Đối với những ngành kinh tế chưa đạt đến mức sản lượng tiềm năng, thì việc kích cầu là một chính sách có hiệu quả, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.