CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỘ LÚN CỦA NHÓM CỌC 1. Khái quát về tính toán độ lún trong thiết kế móng cọc Móng cọc được sử dụng trong thiết kế nền móng với chức năng chính là truyền tải trọng xuống các lớp đất sâu hơn có khả năng chịu được tải trọng với một hệ số an toàn đầy đủ tức là ở tải trọng làm việc không gây ra độ lún có hại cho kết cấu mà chúng phải chống đỡ [1]. - Nhóm thứ hai gồm các tính toán: theo độ lún nền tựa cọc và móng cọc chịu tải trọng thẳng đứng, chuyển vị đồng thời của cọc với đất nền chịu tác dụng của tải trọng ngang và momen, sự hình thành hoặc mở rộng các vết nứt cho các cấu kiện bê tông cốt thép móng cọc. Theo BS 8004:1986 [1], mọi thiết kế móng cọc đều phải thỏa mãn: - Hệ số an toàn chống phá hủy đủ cho cả kết cấu móng và đất nền.
- Độ lún chung của móng và đặc biệt là độ lún lệch dưới tải trọng làm việc không được quá lớn, ảnh hưởng đến khả năng làm việc của kết cấu. - Độ an toàn, độ ổn định của các công trình lân cận và các hệ thống đường ống dịch vụ phải được đảm bảo. Như vậy, việc dự tính độ lún cho móng cọc là bước không thể thiếu khi tiến hành thiết kế móng cọc. Thực tế, việc dự tính độ lún của móng cọc là một vấn đề phức tạp do: - Sự thay đổi của trạng thái ứng suất của đất trong và sau khi hạ cọc.
- Không xác định được rõ ràng sự phân bố và vị trí chính xác của tải trọng truyền từ cọc vào nền đất. -5- Có nhiều phương pháp dự tính độ lún của cọc đã được đề nghị, tuy nhiên, việc xác định độ lún của móng cọc dù là theo xu hướng bán kinh nghiệm, kinh nghiệm hay dựa trên kết quả thí nghiệm thực tế đều có thể tổng quát đưa về một trong hai trường hợp sau: - Các phương pháp ước lượng độ lún áp dụng cho cọc đơn. - Các phương pháp ước lượng độ lún áp dụng cho nhóm cọc. Các phương pháp tính toán độ lún của nhóm cọc Trong thực tế xây dựng, các cọc được thiết kế bố trí gần nhau với khoảng cách 3-6 lần đường kính cọc.
Lúc đó, cọc hoạt động theo nhóm, tác động qua lại giữa các cọc trong nhóm gây nên hiệu ứng nhóm. Hệ quả của hiệu ứng nhóm có thể là: - Sự thay đổi (làm giảm) sức chịu tải của cả nhóm cọc so với tổng sức chịu tải các cọc thành phần. - Làm tăng vùng truyền ứng suất khiến độ lún của nhóm cọc cao hơn nhiều so với cọc đơn, đặc biệt khi có lớp đất yếu (hiệu ứng bè). Trong cả hai trường hợp này, độ lún của nhóm đều lớn hơn độ lún của 1 cọc đơn dưới tải trọng đó.
Do đó, việc đánh giá độ lún của nhóm cọc trở nên quan trọng khi tính toán thiết kế cọc ma sát ngàm trong đất sét hoặc tồn tại lớp sét chịu lún nằm gần dưới mũi cọc. Theo Taylor (1948) [7], độ lún của nhóm cọc ma sát xuất hiện do 3 nguyên nhân sau: - Độ lún do biến dạng nén cọc và do chuyển dịch tương đối của cọc so với đất ngay cạnh. Khi lực ma sát đã phát sinh đầy đủ thì độ lún này tương ứng với giá trị nhận được trong thí nghiệm thử tải trên cọc đơn. - Độ lún gây ra do ứng suất nén xảy ra trong đất giữa các cọc.
- Độ lún gây ra do nén tầng đất có thể nén được dưới các mũi cọc. Độ lún do nén đất giữa các cọc và do nén tầng đất dưới mũi cọc thường lớn hơn độ lún do biến dạng nén của cọc và dịch chuyển của cọc đối với đất. Tuy nhiên độ lún này có thể xảy ra rất chậm trong đất sét bão hòa nước do quá trình cố kết và sự -6- tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng diễn ra rất chậm.Vì có sự xáo trộn cục bộ cấu trúc của đất sau khi hạ cọc nên không thể đánh giá một cách chính xác độ lún xảy ra do ứng suất nén trong vùng đất nằm giữa các cọc. Sự xáo trộn cấu trúc của đất trong quá trình hạ cọc có thể làm tăng độ lún sau khi gia tải cho móng cọc.
Theo Taylor (1948) [7], đất sét bị nhào trộn khi chịu tải bị cố kết làm cho hệ số rỗng nhỏ hơn giá trị đạt được của đất cùng loại ở trạng thái nguyên dạng. Việc đánh giá độ lún xảy ra do nén tầng đất dưới mũi cọc có thể thực hiện được bằng các phương pháp dựa trên lý thuyết cố kết thấm của Terzaghi. Trong thí nghiệm thử tải, độ lún của cọc ma sát đơn không thể đại diện cho độ lún của nhóm cọc. Do đó, thí nghiệm thử tải chỉ cung cấp thông tin về tải trọng phá hoại mà có ít thông tin về độ lún dưới tác dụng của tải trọng cho cọc ma sát.
Việc hạ cọc thường làm thay đổi các đặc trưng biến dạng và các đặc trưng về khả năng chịu nén của khối đất theo các cách khác nhau, việc mở rộng ra xung quanh mũi cọc đơn cũng khác nhau, mặc dù ảnh hưởng của những mở rộng này chỉ trong phạm vi một vài lần đường kính cọc. Vì vậy, độ lún tổng của nhóm cọc đóng hoặc cọc khoan nhồi dưới tác dụng của tải trọng thiết kế cho phép không vượt quá 1/3 hoặc 1/2 khả năng cực hạn của nhóm, nói chung có thể dự đoán sơ bộ bằng cách coi chúng như một trụ móng tương đương kèm theo một số giả thuyết như Terzaghi và Peck (1967) đã đề xuất. Thông thường, độ lún của nhóm cọc (SG) lớn hơn độ lún của cọc đơn (St) khi chịu tải trọng bằng tải trọng trung bình của nhóm (hiệu ứng nhóm). Sở dĩ như vậy vì độ sâu ảnh hưởng của nhóm cọc De lớn hơn so với độ sâu ảnh hưởng của cọc đơn (De’).1 Phân bố ứng suất dưới mũi cọc đơn (a) và nhóm cọc (b) Theo BS 8004:1986 [1], hiệu ứng nhóm này đúng với chuyển vị tức thời khi chịu tải (chuyển vị đàn hồi) và cũng đúng với đất dễ bị lún do cố kết trong phạm vi độ sâu ảnh hưởng De.
Riêng đối với cọc chống trên địa tầng không bị nén lún hiệu ứng này không gây nhiều ảnh hưởng đến độ lún của cọc. Riêng đối với đất rời, không có lý thuyết chung nào để có thể dự đoán độ lún của nhóm cọc mà không kèm theo rất nhiều điều kiện giả định ràng buộc. [1] cũng chỉ ra rằng: khi cọc được thiết kế là cọc chống thì độ lún của cọc được tính toán với giả thiết tải trọng của móng. Theo Poulos [36], thì việc tính lún cho nhóm cọc bao gồm các phương pháp chính sau: 1.
Phương pháp sử dụng các khái niệm hệ số tương tác và nguyên lý chồng chập. Phương pháp tính dựa vào đường cong quan hệ tải trọng (ứng suất) - độ lún (biến dạng) có tính đến các ảnh hưởng tương tác nhóm. Phương pháp tính độ lún nhóm theo giá trị lún của cọc đơn nhân với hệ số Rs đặc trưng cho hiệu ứng tương tác nhóm. Phương pháp móng khối quy ước xem nhóm cọc làm việc như một móng bè tương đương , độ lún là biến dạng của đất nền dưới mặt phẳng mũi cọc.
Phương pháp cọc tương đương: coi các cọc trong nhóm như một cọc tương đương trong đó có cọc và đất. Cọc này được xử lý và tính toán tựa như một cọc đơn tương đương có độ cứng tương thích và độ lún là độ lún trung bình của nhóm cọc. Phương pháp tính lún dựa trên nền tảng phần tử hữu hạn và sai phân hữu hạn theo bài toán phẳng hai chiều và bài toán không gian ba chiều. Tổng kết của Poulos (liệt kê trong Bảng 1.1) cho cái nhìn tổng quan tương đối đầy đủ về các phương pháp tính lún cho nhóm cọc đang được sử dụng rộng rãi hiện nay.1 Các phương pháp phổ biến dùng để xác định độ lún cho móng cọc (Poulos, 2000) Phương pháp Chuẩn Độ Lún Tải Tốc độ Ghi chú lún lệch lún Hệ số tương tác: 1 Có - - - Rs lấy từ biểu thức 𝜌 = 𝑅𝜌 thực nghiệm (Skemton, 1953; Meyerhof, 1959) cho cát.
Kết luận chương 1 Từ các kết quả tổng hợp và phân tích các phương pháp ước lượng độ lún cho móng cọc có thể rút ra một số nhận xét sau: - Hầu hết các phương pháp tính đều căn cứ trên cơ sở xem vật liệu đàn hồi tuyến tính và đồng nhất. - Độ lún của cọc đơn có nhiều phương pháp khá chi tiết và có thể kiểm chứng được bằng các quan trắc thực tế cũng như từ kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc. -10- - Mối quan hệ giữa độ lún của cọc đơn và độ lún của nhóm cọc không được biểu thị rõ ràng do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chiều dài cọc, kích thước cọc, khoảng cách giữa các cọc, phương pháp thi công cọc cũng như điều kiện đất nền. - Các phương pháp xác định độ lún của nhóm cọc được xây dựng chủ yếu dựa trên quan hệ kích thước cọc, chiều sâu cọc, bề rộng nhóm có xét đến tính nén lún của lớp đất dưới mũi cọc mà chưa xác định được cơ chế truyền tải của nhóm cọc cũng như xét đến yếu tố ảnh hưởng của ứng suất từ móng bên cạnh.
- Hầu hết các phương pháp tính đều áp dụng cho các trường hợp đất nền 1 lớp. - Phương pháp móng khối quy ước sử dụng nhiều trong quy phạm đánh giá độ lún của tầng đất dưới mũi cọc. -11- CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN ĐỘ LÚN CỦA CỌC ĐƠN VÀ NHÓM CỌC 2. Độ lún của cọc đơn ngàm trong đất sét theo Davis - Poulos (1968) [13] Độ lún cọc đơn trong lớp đất dính có chiều dày hữu hạn, dưới nó là lớp đất cứng không chịu nén được xác định theo biểu thức sau: Q S= I (2.2) m (1 − ν) m Với: Q – Tải trọng tác dụng lên đầu cọc.
L - Chiều dài cọc. Es - Module đàn hồi thoát nước. ν- Hệ số Poisson ( bằng 0,4 cho sét quá cố kết và 0,2 cho sét thường). mν - hệ số biến đổi thể tích.
β- Hệ số chuyển đổi từ nén không nở hông sang nén có nở hông. Ip - Hệ số ảnh hưởng phụ thuộc vào tỷ số L/B và H/B. Phương pháp kinh nghiệm theo Vesic (1970) [7] Độ lún của cọc trong đất rời, độ lún tức thời của cọc trong đất dính khi chịu tải trọng sử dụng có thể ước định bằng quan hệ sau: B Q L S = + (2.3) 100 A E Trong đó: St - Chuyển vị của đầu cọc (m). B - Đường kính cọc (m).