MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Tường cọc bản (TCB) là một dạng đặc biệt của công trình tường chắn đất. TCB được ứng dụng tương đối phổ biến hiện nay trong hầu hết các ngành như giao thông, cầu đường, thủy lợi, dân dụng và công nghiệp với vai trò để chắn giữ khối đất đào hoặc khối đất đắp. Đặc biệt TCB rất thích hợp để sử dụng chắn giữ khối đất đắp cho các công trình ven sông kết hợp với việc chống xói lở bờ sông Tính toán thiết kế công trình TCB tương đối phức tạp vì chúng chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau như địa chất công trình, địa chất thủy văn, dòng chảy, tải trọng bên ngoài, độ cứng kết cấu… Trong thực tiễn có một số công trình có ứng dụng TCB khi đưa vào khai thác đảm bảo sự làm việc an toàn, tuy nhiên cũng có một số trường hợp gặp sự cố khi đưa vào khai thác hoặc thậm chí xảy ra trong lúc thi công.
Theo một số tài liệu đã công bố trước đây công trình TCB bị phá hoại có thể do là: (1) chân TCB cắm vào nền đất yếu, đất bên dưới có thể bị phá hoại về sức chịu tải, khi đó TCB và neo có thể bị trượt sâu; (2) kết cấu thanh neo bị phá hỏng do lực trong thanh neo tính toán không đủ; (3) độ ngàm dưới chân TCB có thể không đủ do trong quá trình thiết kế hoặc thi công, khi đó đất ở phía trước phần ngàm có thể bị phá hoại hoặc chuyển vị ngang quá mức cho phép; (4) áp lực thấm do thủy triều lên, xuống tác động lên TCB; (5) kết cấu TCB không đủ độ cứng để chịu momen uốn do các loại tải trọng gây ra. Từ đó có thể thấy được sự làm việc công trình TCB sẽ chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau. TCB đã được ứng dụng trong ngành xây dựng tại Việt Nam cũng khá lâu, các nghiên cứu về TCB cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên loại hình công trình này như đã nói ở trên có tính phức tạp liên quan đến vấn đề địa chất, hện kết cấu thanh neo, vị trí mực nước ngầm cũng như độ cứng của bản thân TCB. Do vậy lựa chọn nội dung nghiên cứu: “Phân tích ảnh hưởng của thanh neo và mực nước ngầm lên tường cọc bản ứng dụng cho công trình ven sông Đồng Nai - TP.
Biên Hòa” có ý nghĩa thực tiễn và cần thiết. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chính của luận văn là nghiên cứu một số yếu tố có thể có ảnh hưởng 1 đến sự làm việc của hệ TCB. Một số yếu tố được xem xét khi phân tích trong luận văn này đó là: Độ sâu nạo vét đáy hố đào Vị trí mực nước ngầm trước và sau TCB Độ sâu ngàm chân TCB vào trong đất nền Vị trí đặt thanh neo trên TCB 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp kế thừa số liệu và nghiên cứu trước đây về TCB.
Ngoài ra luận văn còn được sử dụng lý thuyết cơ học đất tới hạn và phương pháp phần tử hữu hạn trong Địa kỹ thuật. Nghiên cứu lý thuyết: Tổng hợp các cơ sở lý thuyết tính toán tường cọc bản, của các tác giả trong nước và nước ngoài đã nghiên cứu về tường cọc bản. Sử dụng phương pháp cân bằng giới hạn dựa trên lý thuyết áp lực đất của Coulomb và dùng phương pháp giải tích để giải bài toán. Phương pháp mô phỏng bài toán bằng phần mềm Plaxis 2D 8.5 để phân tích ứng xử của TCB ứng với hai trường hợp: Chân TCB đặt trong nền cát hoặc chân TCB đặt trong nền sét và từ đó ứng dụng tính toán cho công trình ven sông Đồng Nai -TP.
Biên Hòa, kết quả thu được đem so sánh với kết quả từ lời giải giải tích qua đó rút ra một số kết luận về hướng nghiên cứu và một số kiến nghị để phát triển tiếp đề tài. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI Do tính phức tạp của đề tài cũng như thời gian và năng lực cá nhân có hạn, phạm vi nghiên cứu trong luận văn chỉ dừng lại trong việc tính toán, phân tích với trường hợp bài toán TCB một thanh neo, chưa có điều kiện xem xét bài toán TCB đặt trong nền đất nhiều lớp và sử dụng nhiều hệ neo. Chưa phân tích đầy đủ hết các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự làm việc của TCB như: dòng chảy của nước, va chạm của tàu bè di chuyển trên sông, động đất… 2 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TƯỜNG CỌC BẢN 1.1 GIỚI THIỆU CHƯƠNG Chương này sẽ trình bày sơ lược về các đề tài liên quan đến nội dung của luận văn. Nội dung này đã được thu thập từ các tác giả khác và các tài liệu như tiêu chuẩn ngành và những công bố khác.
Phần cuối của chương sẽ làm rõ hơn ý nghĩa của đề tài và sự khác biệt của đề tài luận văn này với một số nghiên cứu liên quan.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TCB TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC Theo kết quả nghiên cứu [7] đã trình bày được đối với tường cọc bản dạng không neo: khi không có mực nước ngầm, chiều sâu nạo vét càng sâu thì chiều sâu cắm tường cọc bản vào đất càng tăng và mô men uốn lớn nhất trong đất cũng tăng lên: khi có mực nước ngầm; giữ nguyên chiều sâu đường nạo vét, thay đổi độ sâu mực nước ngầm thì các đại lượng chiều sâu cắm tường cọc bản (Dtheory), mô men uốn lớn nhất (Mmax) và độ sâu đạt giá trị mô men uốn lớn nhất (zmax) đều tăng lên khi mực nước ngầm càng hạ thấp: Khi không có mực nước ngầm trước và sau tường cọc bản, vị trí xuất hiện mô men uốn lớn nhất cách đỉnh tường khoảng 0,758 lần tổng chiều dài của tường cọc bản (zmax): Đối với tường cọc bản có một thanh neo, khhi vị trí mực nước ngầm càng hạ thấp thì giá trị mô men uốn lớn nhất trong tường cọc bản tăng, chiều sâu cắm tường cọc bản vào đất cũng tăng và đồn thời lực kéo trong thanh neo cũng tăng lên. Khi thay đổi vị trí thanh neo thấy rằng vị trí thanh neo càng hạ thấp thì chiều sâu cắm tường cọc bản và mô men uốn lớn nhất trong tường cọc bản giảm nhưng lực kéo thanh neo tăng: dung thanh neo cho tường cọc bản có tác dụng giữ ổn định cho tường cọc bản, vị trí mực nước ngầm , chiều sâu nạo vét và vị trí đặt thanh neo có ảnh hưởng nhiều đến sự làm việc của tường cọc bản.1: Sơ đồ áp lực đất tác dụng lên TCB và dạng biểu đồ mô men Hình 1.2: TCB không có thanh neo đặt trong nền cát toán đồ mối tương quan giữa L, Dtheory, zmax, Mmax Hình 1.3: TCB có thanh neo đặt trong nền cát sơ đồ áp lực đất tác dụng lên TCB 4 Hình 1.4: Đồ thị mối tương quan các đại lượng khảo sát [7] Theo kết quả nghiên cứu [8] đã tìm hiểu thiết kế công trình kè cừ ván PC với ba phương án: không gia cố ; gia cố tường bằng neo và gia cố nền bằng gia tải trước. nghiên cứu rút ra vài nhận xét: với nền đất yếu, việc gia cố nền đất nhằm giảm biến dạng lún là cần thiết giảm thiểu rủi ro cho công trình trong quá trình sử dụng: chiều tường tăng, chuyển vị công trình giảm không đáng kể( dưới 10%) nhưng chuyển vị của tường lại tang khá có thể lên tới 30%. Ngoài ra hệ số an toàn cũng tang đáng kể từ 15% đến 40% tùy thuộc vào các phương án thiết kế nhưng trong tất cả các trường hợp, điều kiện về ổn định vẫn thõa (FS>1,4) mô men uốn trong tường có thay đổi tùy thuộc vào phương án thiết kế , đặc biệt là phương pháp gia cố tường bằng neo nhưng đều rất nhỏ, khoảng 10% so với khả nằng chịu uốn nứt của cấu kiện cọc ván PC.
Việc phân tích điều kiện kinh tế cho thấy phương án kè sử dụng cọc ván PC với phương án thiết kế có chiều dài hợp lý có thể giảm đến gần 60% giá thành so với phương án truyền thống.5: Cọc ván cừ BTCT dự ứng lực giá trị công trình tính cho 1m dài kè Theo kết quả nghiên cứu [4] đã xây dựng phương trình tương quan mới tính toán chiều dài TCB cho công trình ven song đất yếu và lũ lụt ở TPHCM và đồng bằng sông Cửu Long trong trường hợp hệ số an toàn đưuọc đưa vào hệ số áp lực đất bị động cụ thể công thức V18 y 3 (V19 x V20 ) y 2 (V22 x 2 V23 x V21 ) y 5V15 x 3 V24 x 2 V26 x V25 0 Theo kết quả nghiên cứu Phan Trường Phiệt [3] Đã nghiên cứu xây dựng công thức và sơ đồ tính toán áp lực đất chủ động cho các bài toán cơ bản thứ nhất ( tải trọng nằm ngang so với tường chắn), bài toán cơ bản thứ hai ( tải trọng nghiên một góc so với tường chắn), bài toán cơ bản thứ ba ( tải nghiêng và tường nghiêng). Theo kết quả nghiên cứu [9] Sự an toàn của kết cấu tường kè đóng cai trò quan trọng trong của công trình bảo vệ bờ sông rạch…Nhận thức đúng về tầm quan trọng của nó cũng như tìm hiểu, phân tích và đề xuát giải pháp là rất cần thiết. Việc tính toán bằng giải tích cho thấy mô mên uốn lớn nhất khi có neo lớn gấp 2 lần không neo và 4 lần cọc bê tông cốt thép và tường chắn. Trong điều kiện đất yếu tại Cần Thơ nên chọn giải pháp tường bê tông cốt thép ứng lực trước có neo.
Hệ thông neo cũng được phát huy tác dụng khi tham gia vào hệ kết cấu chịu lực làm giảm chuyển vị của tường cọc bản bê tông cốt thép Với cùng chiều dài cọc và vị trí đặt neo, nên lựa chọn sau cho hợp lý kinh tế và thuận tiện thi công. Qua nghiên cứu cho thấy vị trí thanh neo cần bố trí ở vị trí độ sâu 3m để có lực neo lớn nhất có thể và thuận tiện cho thi công 6 Trong mô hình Plaxis có mô men uốn lớn nhất nhỏ hơn khi tính toán bằng giải tích từ 2-4 lần và có chuyển vị chênh lệch với khi tính toán bằng giải tích khoảng 10%-20% Theo kết quả nghiên cứu [10] đã mô phỏng công trình kè có mặt cắt tính toán ở Hình 1.20 và mức độ chuyển vị ở Hình 1.6, đã kết luận được một số vấn đề sau: Hình 1.