CHƯƠNG 1, TONG QUAN HIỆN TRANG BE DIEU. NHŨNG TON TẠI VÀ. YEU CAU DAT RA LL. Giới thiệu sơ lược sự phát triỂn hệ thống dé điều trong và ngoài nước ‘BE là một day đất hình thảnh tự nhiên hoặc do con người tạo nên còn gọi là dé nhân tạo chạy đọc theo các bờ sông hay ba bí "Để tự nhiên được hình thành do sự lắng đọng của trim tích trong lông sông khỉ đồng nước nay tran qua bờ sông thường là vào những mùa lũ.
Các đê thiên nhiên là đặc điểm phổ biển của các con sông có nhiều sự thay đổi hướng dang chảy. Tại các vùng ven biển thi các dn cát cũng có th coi là để tự nhiên, hinh thái này khá phổ biển ở các tỉnh khu vite min Trung nước ta Hin 1-1. Cồn cát ven biển Bé Trach, Quảng Bình ~ Để biển ue nhiên Dé nhân tạo do con người xây dựng nên, nó có thé là vĩnh cửu hoặc được sử: dạng tam thời để chống lũ trong trường hợp cần thiết Vai trò của để nhân tạo là ngân nước trần vào các khu dân cư sin sống hoặc các phn diện ch đất đại mà con người ding để sản xuất nông, fim, ngư nghiệp.Hiện nay, trên thể giới chủ yêu là sắc hệ thống đề nhân tạo. “Tổ hợp dé và các công trình khác trong hệ thông công trình phỏng chống, giảm.
nhẹ các hiểm họa do thiên tai hoặc do sự thay đổi bắt ắ thường của thời ti gây ra .được rit nhiều quốc gia quan tim, Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm của tùng nước như Học viên: Phùng Minh Đức Ngành: Xây dựng công tình thủy đặc điểm tự nhiên, tình dân sinh kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật. mà hệ thống công trình dé điều được hình thành và phát triển ở mức độ khác nhau 1. Hệ thống để điều ở Việt Nam Trong sách lịch sử Việt Nam, đê được nói đến đầu tiên là vào khoảng năm 521 dưới thời Lý Bi (tức Ly Bôn). Tuy nhiên, người có công và được nhắc nhở nhất là Cao Biển, giữa thé kỳ thứ 9: "Sử chép rằng Cao Biển dio sông, khơi ngồi, mở đường lộ, lập quán trọ cho khách đi đường trên khắp An Nam.
Nhiều đoạn đê, nhất là đoạn đề rên vùng gần Hà Nội hiện nay được dip để chống lụt lội". Cao Bi lệnh dân thiết lập đê quanh thành Đại La với tổng số chiều dai 8.500 thước, cao 8 thước. Để Cơ Xá là con dé đầu tiên được vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho xây dung vào tháng 3 năm Mậu Tý (1108) để bảo vệ kinh thành Thăng Long khỏi ngập. lục, Nhà vua ra lệnh đắp đề trên sông Như Nguyệt (Sông Cầu bay gid) đài 30 km.
Thiết lập đề biển được ghỉ trong lịch sử đầu tiên là vào cuối nhà Trin, Hồ Quý Ly cải tổ lại điền địa “Khi trước những nha tôn thất cứ sai đầy 16 ra chỗ đất bồi & ngoài bé, dip đê để một vài năm cho hết nước mặn, rồi khai khẩn thành mộng. Nay ngoại trừ bậc đại vương, công chúa ra, thứ dân không được có hơn 10 mẫu” Đến thời kỳ Pháp thuộc, trong quá trình cai tr, chính quyn thực din cũng gặp, phải không it khỏ khăn bởi những thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra. Trước áp lực. cia dư luận, chính quyền thực dn buộc phải nghiên cứu để thực hiện một ké hoạch đắp đê ở Bắc Bộ tương đổi quy mô.
Trong đó có nhiều biện pháp công trình ma đến. nay vẫn được phát huy và cải tạo nâng cắp như: tải sinh đ rừng phòng hộ ở thượng nguồn dé chậm lũ; xây dựng hồ, đập để cắt lũ; dip để cao hơn mức lũ đặc biệt Hệ thống đề điều của Việt Nam hiện nay có khoảng 8.000 km dé sông, còn lại là dé biển với khối lượng đất đá dung để đắp ước tính là 520 triệu m’. Mặc dù tại một số địa phương, bệ thống đề điều cồn chưa đảm bảo tính bn định cao khi xây ra lũ lớn nhưng đã cơ bản khẳng định được vai trò bảo vệ Học viên: Phùng Minh Đức Ngành: Xây dựng công tình thủy của nó, Điễu đồ là hoàn toàn không thể phủ định. Hing năm, hệ thống dé này đều được đầu tư củng cố, nâng cấp, đặc biệt là với các tuyến đê sông trên cả nước.
Khi cổ là lớn xảy ra, các tuyển đề sông đã từng bước được cũng cổ vững chắc, đáp ứng được yêu cầu phòng chống lũ đặt ra qua từng giai đoạn. Hệ thông dé sông của Việt Nam Hệ thống để sông của Việt Nam có đặc điểm là không ni liền nhau mã tạo thành từng day theo dọc các con sông. Trong đó hệ thống đê sông trong ving đồng bằng sông Hồng là 3.417 km dé thuộc Bắc Bộ và 420 km để ở các sông vùng Thanh Hóa-Nghệ An. Hệ thông sông Hồng có 1.667 km để và 750 km đề thuộc hệ thông sông Thái Bình.
Hệ thông để sông Hồng có quy mô lớn và hoàn thiện hơn so với các hệ thông 8 côn lại ác để sông thường có độ cao không qué 10 m, Chiều cao trung bình của đề sông từ 6-8 m, cô nơi lên đến 11 m, Tuy nhiên do được xây dựng đã lâu đời trên nền dit yếu, đắt đắp để không đồng nhất, nhiều noi bị hư hại vì không được tu bổ thường xuyên. te thời, do dân cu đông, nhiều nhà cửa xây cất ngay trên bo nên. 48 có thé bị vỡ bất cứ lúc nào trong mùa lũ lớn. Tay theo tim quan trọng kinh tế và số dân ew của địa phương, dựa vào đợt lũ lớn năm 1971, 5 cắp đề được thiết kế.
Tiêu chuẳn phòng lũ đối với hệ thống đề Hà Nội là bảo đảm chẳng được lũ tương ứng với mục nước sông Hồng tại trạm Long Biên là 13,4 m, a thoát được lưu lượng tối thiễu là 20 000 m /s Đặc biệt với thủ đô Hà Nội, từ ngàn xưa, bảo vệ kinh đô Đại La/Thăng Long/ là tủ tiên của nhà vua qua các thời đại. Hàng loạt dé cao, có nơi cao 15 m, được đã từ hàng thé kỷ trước. Ngày nay, có nhiễu noi lòng sông cao hơn mặt dit đồng ruộng, làng mạc, trong khi đó địa hình Hà Nội bằng phẳng có độ cao trung bình 7- 8m trên mực nước biển, nơi thấp nhất có độ cao 5 m. Học viên: Phùng Minh Đức Ngành: Xây dựng công tình thủy Hình 1-3.
Dé sing Hồng Sau biến cổ vỡ để năm 1971, nhiễu biện pháp mới được ban hành, ngoải việc tăng cường hệ thống để, còn lập hỗ chứa nước và phân lũ. Khi mực nước sông Hồng ti Hà Nội đến mức báo động 13.4 m, thì ding nước sông Hồng ở dầu nguồn được xa vào Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Tho, Hà Nam và Nam Định. Việc tháo nước Học viên: Phùng Minh Đức Ngành: Xây dựng công tình thủy phân lũ vào sông Đây do Thủ Tưởng quyết định vi có ảnh hưởng đến hing triệu dân chúng, và chính phủ bồi thường thiệt bại Cie tuyển để ở các tỉnh miễn Trung thuộc hai hệ thống sông lớn ở Bắc Trung Bộ là sông Mã và sông Cả với tổng chiều dài là 381,47 km. Trong đó chiều dai đề.
thuộc hệ thống sông Mã, sông Chu là 316,llm; còn lại 65,4 km thuộc hệ thống sông Cả, sông La. Thượng nguồn của hai hệ thống sông này chưa có các hồ chứa để điều tiết khi xuất hiện lũ, bởi vậy dé là biện pháp công trình duy nhất và có ý nghĩa .đặc biệt quan trọng để chống lũ. Hệ thống để ở các tỉnh Nam Bộ chủ yếu là dé biển và để cửa sông. Để sông ở miễn Nam có kế cấu đơn giản, chủy ếu li 48 bao, đề ối dùng để ngăn mặn.
Hệ thắng dé biển của Việt Nam Trải qua một thời gian đài xây dựng và phát triển Việt Nam hiện có khoảng 2.700 km đê biển, đê cửa sông nằm ở hau hết các tinh có biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang và được xây dip ngày càng vững chắc. Do anh hưởng của biến động thời tiết trên toàn thé giới vi ding nước El Nino và La Nina, những trận bão biển. xây ra cảng khốc ligt hơn. Hàng năm, mùa bão thường kéo dai từ tháng 6 đến thắng 10 và trung bình có 4 cơn bio, Những cơn bão này tạo ra những con sóng cao, gây lạt lội vũng duyên hai, Hiện nay, đề biển còn thấp (cao khoảng 5 m), nhiều nơi cồn bằng đất, có noi bằng bê tông, và chỉ chịu được các cơn bão nhỏ.
Với kỹ thuật trồng ring ngập mặn ngoài bở đê, và cỏ Vetiver hai bên be 46 có thể cin được sự phá hãy do sóng bão, “Trong tong số 117 huyện ven biển thi có 105 huyện có để biển. Hệ thống để biển có nhiệm vụ chủ yéu là bảo vệ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sin Trong thời gian 1958-1995, tổng số diện tích đất bồi đầm lầy vùng duyén hải Vinh Bắc Bộ được biển cải thành đồng mộng nhờ thong để biển là 24,000 ha. Theo số liệu thống kẻ, đ biển và để cửa sông ở nước ta có thể chỉ ra làm 3 ving: Bắc Bộ ( từ Quảng Ninh đến huyện Hậu Lộc- Thanh Hóa ): Trung Bộ (ừ nam Thanh Hóa đến Bình Thuận): Nam Bộ (ừ Bà Rịa Vũng Tau đến Kiên Giang ) Học viên: Phùng Minh Đức Ngành: Xây dựng công tình thủy Hình 1-4. Để biển lát đá khan Học viên: Phùng Minh Đức Ngành: Xây dựng công tình thủy 1.
Hệ thống đề điều Hà Lan Là một đất nước có 2/3 diện tích thắp hon mực nước biển, Hà Lan có điện tích 41.543 km? ; din số 16,5 triệu người; mật độ 486 ngkmẺ; Thủ đô: Amsterdam, trùng tâm chính trị: La-Hay, GDP 677.5 tỷ USD, xếp thứ 16, thu nhập 40.5 ngàn USD/người, xếp thứ 9. Hà Lan là ving đất thấp, châu thổ cña 4 con sông Rhine, Maas, Schelde và Ussel. Lịch sử thủy lợi Hà Lanl lịch sử đấu tranh với biển và với nước từ trên 2000 năm đến nay. Các thành tựu của họ trong lĩnh vực an toàn của hệ thống dé điều trước các tác động thiên nhiên rt xứng đăng để chúng ta nghiễn cứu học hỏi.
Ngày 30/9/2011, trong chuyế im chính thức Vương quốc Hà Lan, Thủ tưởng Nguyễn Tắn Dũng đã thâm, tìm hiểu hệ thống để chắn sông, các công trình gia cổ bờ biển nỗi tiếng của Hà Lan. “Trong chuyển thăm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã nghe giới thiệu kinh nghiệm của Ha Lan trong quy hoạch vùng dong bằng châu thổ cũng như những.