nguyên thiên nhiên: sở hữu nhà nước (state property regime), sé hu cé nhin (private property regime), sở hữu cổng cộng (common properry regime) va tiếp cận tự do (non-properry regime/onen access). Không có một loại chế độ sở hữu nào là tuyệt đối hoàn toàn, phần lớn nó chuyển tử chế độ sở hữu này sang chế độ sở hữu khác tùy thuộc vào sự thay đổi bởi cánh xã hội va chính trị Trong hối cảnh phân quyền trong quản lý rừng ở Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng tiếp cận "bó quyền” của Schalager and Ostrom (1392) để phân tích sự thay đổi về quyền sở hữu sau khi giao rừng cho cộng đẳng. Tiếp cận “thể quyền" này được điều chỉnh cho phủ hợp với bối cảnh quản ly rửng ở Việt Nam như sau: + Quyén tiếp cận: Quyền di vào các khu rừng đã dược giao, nhưng chỉ để nghỉ ngơi, thư giãn chứ không được tác động vào rừng, «_ Quyền khai thác/thu hồi: Quyển thu hái các sản phẩm rửng như là quyền được khai thác gốvà thu hái các lâm sắn ngoài gố (LSNG). «_ Quyên quản lý: Quyền được sử dụng đất lâm nghiệp không có rừng cho sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật, trồng cây trong ring, tỉa thưa va lâm giảu rừng, «_ Quyền ngắn chặn/loại crt: Quyền ngăn chặn những người vi phạm việc khai thác gỗ hay bất ky hoạt động nào mà không được phép và quyền quyết định ai được phép khai thác gố và thu hái LNG trong rừng được giao.
+ Quyền chuyển nhượng: Quyền chuyển nhượng, rrao đổi, cho thuê, thừa kể, và thể chấp rừng được sáo. Năm quyền trên có thể được xem xét dưới góc độ quyền chính thức (fomal right) và quyền không chính thức (inforral right). Quyền chính thức là quyền được luật pháp công nhận, Quyền không chính thức liên quan đến thực tiến hàng ngày (hoặc trái nghiệm) trong các trường hợp mã các quyền này không được luật pháp công nhận chính thức. Các quyển này được xác định và những người sử dụng tài ngưyên bắt buộc phải tuân thủ (Schalager and Ostrom, 1992).
Phương pháp thu thập số liệu Nghiên cứu này thu thập cả số liệu thử cấp và số liệu sơ cấp. Các số liệu thu thập được chủ yếu mang tính định tính. Để thu thập các dữ liệu liên quan đến để tải nghiên cứu, chúng tôi đã kết hợp một vải phương pháp (công cụ) như: tam khảo tài liệu thứ cấp, tháo luận nhóm kết hợp với phòng vấn sâu. Tham khảo tài liệu thử cẤp.
Tham khảo tài liệu thử cấp để thu thập các thông tin về điều kiện cơ bản của điểm nghiên rứu, các chính sách và pháp luật lâm nghiệp và các vấn đề khác có liền quan đến điểm nghiên cứu. Tải liệu thứ cấp dược thu thập từ các nguồn khác nhau như niên giám thống kê, các văn bản pháp luật lâm nghiệp, các báo cáo tử các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương. Thảo luận nhám kết hợp với phỏng vấn sâu Thảo luận nhóm kết hợp với phỏng vẩn sâu được sử dụng để thu thập các thông tin định tính. Chúng tôi đã tiển hảnh thảo luận nhóm với hai nhóm khác nhau: (I) nhám “người nội bộ” bao gỗm trướng than, ban quản lý rừng thôn/cộng đổng, già làng, tổ trưởng tổ bảo vệ rừng và một sổ nông dân nòng cốt; và (2) nhóm “người ngoài” bao gầm cán bộ kiểm lâm, căn bộ xã, cán hộ huyện.
Trong quá trình thảo luận nhóm. chúng tôi đã kết hợp phỏng vấn chuyên sâu với một số người cung cấp thông tín chỉnh để có được thông tin chỉ tiết hơn, cũng như biết được quan điểm của họ về các vấn để nghiên cứu Phương pháp phân tích thông tin Khung ke của nghiên cứu này (Hình |) xem rừng cộng đồng là điểm "đi vào” (entry poÌnt trong phạm vi điểm nghiên cứu và sự chuyển đổi quyễn sở hữu đổi với rừng là sự chuyển giao tử sở hữu Nhà nước sang sở hữu cộng đồng. Dựa vào khung khái niệm này, trước hết chúng tôi xác định những người nắm giữ quyển và những quyén gi (bó quyền) mà họ nắm gi. Tiếp đến là nghiên cứu họ thực hiện các Phin1 Ba dang sinh hoe vA bo edn 45 quyền đỏ như thế nào, bao gồm cả quyền chính thức và quyền không chính thức.
Cuối cùng, chúng tôi phân tích các nguyên nhân din dén “khoảng cách (gap)" gida quyền chính thức và quyền không chinh thức. Đây là một nghiên cứu mang tính chất định tính, các dữ liệu thu thập được đều được sắp xếp, phân loại và phân tích theo từng chủ đề đã được trình bày ở khung khái niệm nêu trên. Các sơ đồ, bảng biểu được sử dụng để minh họa và giải thích cho kết quả nghiên cứu. chính thức Thế quyền Thực hiện oe Người giữ quyền ~ Tiếp cận ~ Nhà nước ~ Khai thác/thu hồi Khoảng - Cộng đồng/hôn Nắm giữ - Quản lý cách ~ Người ngoài ~ Ngăn chặn/loại trừ.
-CHufển nhượng lung Quyền không chỉnh thức Thay đổi Sự chuyển đổi quyền sở hữu về rừng Nguyễn nhân ~ Quan hệ xã hội ~ Chính sách Nhà nước ~ Khác Sự phân quyền trong quản lý rừng. Giao rừng cho cộng đồng/thôn Hình I. Khung khái niệm của nghiên cửu KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Những thông tin cơ bản của thôn Kăn Sâm và thôn Pahy, xã Hồng Hạ, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Nghiên cửu nảy được tiển hành ở hai thôn của vùng cao Thừa Thiên Huế. Thôn Kăn Sâm được chon đại diện cho các cộng đồng được Nhà nước giao rửng.
Thôn Pahy được chọn đại diện cho các thôn quản lý rừng truyền thống (chưa được Nhả nước giao rừng). "Thôn Kăn Sâm chỉ cỏ dân tộc Cơ Tu sinh sống và cỏ 40 hộ. Thôn Pahy có 76 hộ, trong đỏ có 3l hộ Tà Ôi, I5 hộ Pa Cô, I2 hộ Pa Hy, 3 hộ Cơ Tu và I5 hộ Kinh. Ở cả hai thôn, đất canh tác lúa nước rất ít và chú yếu nằm dọc ở hai bên các khe, suối hoặc ở những vùng thung lũng thấp.
Đối với đất canh tác nương rấy thì người dân thưởng trồng lúa rấy, sắn và một sổ loài cây khác như ngô, chuối, đậu. đất canh tác nương rấy kém màu mỡ, nên người dân chỉ trồng lủa trong năm đầu. Hiện nay, người dân sống chủ yếu dựa vào canh tác lúa nước và canh tác nương ray. Tuy nhiên, ở cả hai thôn đều không đủ đất canh tác lúa nước, nên hầu hết các hộ gia định đều thiếu lương thực, nên họ vấn gây áp lực rất lớn vào rửng, Động cơ giao rừng tự nhiên cho cộng đồng Cũng như các vùng khắc trong nước, dưới áp lực của nhu cầu bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học ở cấp quốc tế và quốc gia, UBND huyện và UBND xã cổ gắng làm giảm việc phá rửng, đặc biệt là phá rừng tự nhiên, thông qua việc giao rừng cho cộng đồng.
UBND xã hoàn toàn đồng ý với quyết định của UBND huyện về việc giao rừng tự nhiên cho cộng đồng dân cư thôn quản lý, vì những Ký yếu Hội thảo Quốcgi lin cha diện tích này đều là rừng nghèo và bị suy thoái nghiêm trọng, không đủ để tiếp tục khai thác trong vỏng 15-20 năm tới. Rừng được giao cho cộng đồng th rất nghèo, hơn nữa sau khi được giao, cộng đồng lại không có chế tài đảm bảo và thiếu sự hổ trợ về kỹ thuật và tài chính. Vì vậy, có thể nói rằng việc giao rửng tự nhiên đã tạo cơ hội cho UBND xã chuyển chỉ phí về quản lý rừng cho cộng đồng. Một lý do khác khuyến khích chính quyền địa phương tham gịa vào tiển trinh giao rừng tự nhiên cho cộng đồng đó là những khía cạnh liên quan đến chính trị, Lý do này tương tự như trường hợp ở xã Thượng Quảng, huyện Nam Đêng - xã được chọn làm thi điểm gìao rững tự nhiên cho nhóm hộ tử năm 2003, đó là những người lãnh đạo chính quyền địa phương, đặc biệt là lãnh đạo xã, mong muốn thăng tiến lên vị trí cao hơn khi họ chấp hành tốt chỉnh sách của Nhà nước - giao rừng tự nhiễn cho nhóm hộ quản lý (Hoang Huy Tuan, 2006).
Dự án GCP hố trợ tài chinh cho chinh quyền địa phương giao rừng cho cộng đồng với hai mục tiêu chính sau: (l) có được sự ủng hộ và cam kết của cộng đồng về bảo tốn đa dạng sinh học thông qua việc thực hiện các sắng kiển của cộng đồng trong quản lý rừng và phục hồi rừng; và (2) khuyến khích quản lý rừng bền vững và cải thiện sinh kế. Động cơ khuyến khich cộng đồng dân cư thôn tham gia vào tiễn trình giao rửng là họ sẽ có được quyền pháp lý (được cấp sổ đỏ) sau khí nhận rừng, cũng như được hưởng lợi từ dự án GCP. Sau khí giao ring cho cộng đồng, GCP đã hốtrợ kính phí chơ người dân tham gìa lớp tập huấn về kỹ thuật trồng mây và trồng thử nghiệm mây và lá kè trong diện tích rửng được giao. Sự chuyển đổi quyền chính thức và quyên không chính thức đối với rừng cộng đồng dưới sự phân quyền Theo Agrawal và Ostrom (2001), bên cạnh việc tập trung vào các quyền, thì việc xác định những người nắm quyền đó cũng không kém phần quan trọng.
Trong trưởng hợp ở xã Hồng Hạ, những người nắm quyến có thể chia thành ba nhóm chính: Nhà nước (UBND huyện, UBND xã và Hạt Kiểm làm); tập thểIcộng đồng (thôn Kăn Sảm, Ban điều hảnh thên); và cá nhân (người dân thỏn Kăn Sâm, người dân thôn Pahy và người ngoài). Sự khác nhau về quyền chính thức đối với rùng giữa hai thôn Kan Sam và Pahy Tóm í, trước khí giao rừng cho công đồng đân cư thôn quản lý, rừng ở xã Hắng Hạ thuộc sở hữu của Nhà nước. Tất cả các hoạt động liên quan đến rừng đều phải được sự cho pháp của Nhà nước. xã, Hạt Kiểm lâm và BQLRPH Sông Bồ là những cơ quan đại điện cho Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng trong phạm vị của địa phương.
Vì vậy, hợ có tất cả các quyền chính thức (quyền tiếp cận, khai thác, quản lý và ngăn chặn) để thực hiện nhiệm vụ quản lý rừng do Nhà nước giao. Trong khi đó, cộng đồngjngười dân chỉ có quyền tiếp cận. Sau khi giao rằng cho thôn Kăn Sâm quản lý, đối với thõn Pahy quyền chính thức đổi với rừng vấn không thay đổi, trong khi đó thì các quyển này đã thay đổi đăng kể trong trưởng hợp của thôn Kăn Sâm. Để quản lý rừng được giao, thân Kăn Sâm đã xây dựng quy ước quản lý bảo vệ rừng dưới sự hướng dấn của Hạt Kiếm lam.