Luận văn phân quyền quản lý rừng cộng đồng - Thừa Thiên Huế

Luận văn nghiên cứu tác động của phân quyền đến quyền sở hữu rừng cộng đồng tại vùng cao Thừa Thiên Huế, phân tích chính sách giao rừng và quản lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

nghiên cứu khoa học

2008

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. Phương pháp thu thập số liệu

1.1. Tham khảo tài liệu thứ cấp

1.2. Thảo luận nhóm kết hợp với phỏng vấn sâu

2. Phương pháp phân tích thông tin

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Những thông tin cơ bản của thôn Kăn Sâm và thôn Pahy, xã Hồng Hạ, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2. Động cơ giao rừng tự nhiên cho cộng đồng

3.3. Sự chuyển đổi quyền chính thức và quyền không chính thức đối với rừng cộng đồng dưới sự phân quyền

3.3.1. Sự khác nhau về quyền chính thức đối với rừng giữa hai thôn Kăn Sâm và Pahy

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

4.1. Kết luận

4.2. Đề xuất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về phân quyền quản lý rừng và quyền sở hữu cộng đồng

Phân quyền quản lý rừng và quyền sở hữu cộng đồng là một chủ đề then chốt trong cải cách lâm nghiệp tại Việt Nam. Khái niệm này không chỉ liên quan đến việc chuyển giao tài sản từ sở hữu nhà nước sang sở hữu cộng đồng, mà còn phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong cấu trúc quyền lực và trách nhiệm quản lý tài nguyên thiên nhiên. Theo tiếp cận “bó quyền” (bundle of rights) của Schlager và Ostrom (1992), quyền sở hữu không phải là một khái niệm đơn nhất, mà bao gồm năm quyền cốt lõi: quyền tiếp cận, quyền khai thác/thu hồi, quyền quản lý, quyền ngăn chặn/loại trừ, và quyền chuyển nhượng. Trong bối cảnh Việt Nam, việc giao rừng cho cộng đồng thường chỉ trao một phần trong bó quyền này, dẫn đến khoảng cách giữa quyền chính thức (được luật pháp công nhận) và quyền không chính thức (hình thành từ thực tiễn địa phương). Sự chuyển đổi chế độ sở hữu – từ chế độ sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu cộng đồng đến tiếp cận tự do – thường không tuyệt đối, mà linh hoạt theo biến động xã hội và chính trị. Do đó, hiểu đúng bản chất của phân quyền quản lý rừng là nền tảng để thiết kế chính sách hiệu quả và bền vững.

1.1. Phân quyền quản lý rừng là gì và tại sao cần thiết

Phân quyền quản lý rừng là quá trình trao quyền ra quyết định và thực thi các hoạt động liên quan đến rừng từ cấp trung ương xuống cấp địa phương hoặc cộng đồng. Điều này giúp tăng tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả trong bảo vệ tài nguyên. Đặc biệt, tại các vùng sâu vùng xa, nơi nhà nước khó kiểm soát trực tiếp, quyền sở hữu cộng đồng trở thành giải pháp thay thế khả thi.

1.2. Khung lý thuyết bó quyền và ứng dụng tại Việt Nam

Tiếp cận “bó quyền” của Schlager và Ostrom giúp phân tích cụ thể các quyền mà cộng đồng được hưởng sau khi nhận rừng. Tại Việt Nam, khung này được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn pháp lý và văn hóa địa phương, làm rõ ranh giới giữa quyền được ghi nhận và quyền thực tế được thực thi.

II. Thách thức lớn khi triển khai quyền sở hữu cộng đồng ở Việt Nam

Mặc dù chính sách giao rừng cho cộng đồng đã được triển khai từ nhiều năm, thực tế cho thấy quyền sở hữu cộng đồng vẫn gặp nhiều rào cản. Một trong những thách thức nổi bật là thiếu hỗ trợ từ chính quyền địa phương và cơ quan chức năng. Nhiều cộng đồng không được cung cấp đủ nguồn lực – nhân lực, tài chính, kỹ thuật – để thực hiện hiệu quả các quyền được giao. Ví dụ, tại thôn Kăn Sâm, lực lượng tuần tra rừng cộng đồng không được trả công, dẫn đến việc giám sát rừng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn rồi ngừng hẳn. Ngoài ra, mối quan hệ quyền lực xã hội làm suy yếu khả năng thực thi quyền ngăn chặn/loại trừ. Những người khai thác gỗ trái phép thường có quan hệ họ hàng với lãnh đạo địa phương, khiến cộng đồng khó xử lý vi phạm. Một thách thức khác đến từ xung đột thế hệ: người lớn tuổi muốn giữ đất trống trong rừng để trồng cây bản địa phục vụ nhu cầu cộng đồng lâu dài, trong khi giới trẻ muốn chia đất để trồng keo, thu lợi ngắn hạn. Mâu thuẫn này khiến diện tích đất trống không được sử dụng hiệu quả, làm giảm giá trị kinh tế và sinh thái của rừng cộng đồng. Những khoảng cách này cho thấy sự cần thiết phải đồng bộ hóa giữa khung pháp lý và thực tiễn xã hội.

2.1. Thiếu nguồn lực và hỗ trợ từ cơ quan chức năng

Cộng đồng thường không có đủ nhân lực, tài chính hoặc kỹ năng để thực hiện quyền quản lý rừng. Ngay cả lực lượng kiểm lâm cũng thừa nhận khó hỗ trợ hiệu quả do thiếu nguồn lực và cơ chế phối hợp rõ ràng.

2.2. Xung đột xã hội và mâu thuẫn thế hệ trong quản lý rừng

Mâu thuẫn giữa thế hệ già và trẻ về cách sử dụng đất rừng làm chậm tiến độ phát triển rừng cộng đồng. Đồng thời, mạng lưới quan hệ gia đình và quyền lực địa phương cản trở việc thực thi quyền ngăn chặn vi phạm.

III. Phương pháp phân tích quyền sở hữu rừng cộng đồng hiệu quả

Để đánh giá chính xác mức độ thực thi phân quyền quản lý rừng, cần áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp đa nguồn dữ liệu. Nghiên cứu điển hình sử dụng thảo luận nhómphỏng vấn sâu với hai nhóm đối tượng: (1) “người nội bộ” – gồm trưởng thôn, ban quản lý rừng cộng đồng, già làng, tổ bảo vệ rừng; và (2) “người ngoài” – như cán bộ kiểm lâm, cán bộ xã, huyện. Phương pháp này giúp thu thập góc nhìn đa chiều về quyền chính thứcquyền không chính thức. Bên cạnh đó, tài liệu thứ cấp từ niên giám thống kê, văn bản pháp luật lâm nghiệp và báo cáo địa phương cung cấp bối cảnh chính sách và điều kiện cơ sở. Khung phân tích tập trung vào ba bước: (1) xác định ai nắm giữ quyền và loại quyền nào; (2) tìm hiểu cách họ thực hiện các quyền đó; (3) phân tích nguyên nhân gây ra “khoảng cách” giữa quyền pháp lý và quyền thực tế. Cách tiếp cận này không chỉ phản ánh thực trạng mà còn chỉ ra điểm nghẽn cần can thiệp trong chính sách phân quyền quản lý rừng.

3.1. Kết hợp thảo luận nhóm và phỏng vấn chuyên sâu

Phương pháp định tính giúp khai thác sâu quan điểm, kinh nghiệm và thách thức thực tế của các bên liên quan, đặc biệt trong bối cảnh quyền sở hữu cộng đồng chưa được thể chế hóa đầy đủ.

3.2. Sử dụng tài liệu thứ cấp để xây dựng bối cảnh chính sách

Các văn bản pháp luật, báo cáo địa phương và số liệu thống kê cung cấp nền tảng để so sánh giữa quy định và thực tiễn, từ đó phát hiện mâu thuẫn trong hệ thống quản lý rừng.

IV. Giải pháp tăng cường hiệu quả phân quyền quản lý rừng cộng đồng

Để thu hẹp khoảng cách giữa quyền chính thứcquyền không chính thức, cần có các giải pháp đồng bộ. Trước hết, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ chính quyền địa phương phải được cụ thể hóa thành cơ chế thường xuyên, không chỉ mang tính phong trào. Cộng đồng cần được đào tạo về kỹ năng quản lý, giám sát và giải quyết xung đột. Thứ hai, cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập để xử lý vi phạm, đặc biệt khi có sự can thiệp của mối quan hệ quyền lực. Thứ ba, thúc đẩy đối thoại liên thế hệ trong cộng đồng nhằm thống nhất chiến lược sử dụng đất rừng – cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn và giá trị sinh thái dài hạn. Cuối cùng, pháp luật cần điều chỉnh để công nhận rõ ràng quyền chuyển nhượngquyền ngăn chặn trong khuôn khổ sở hữu cộng đồng, giúp cộng đồng có đủ công cụ pháp lý để bảo vệ tài sản của mình. Những giải pháp này không chỉ tăng tính bền vững mà còn củng cố niềm tin của người dân vào mô hình phân quyền quản lý rừng.

4.1. Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho cộng đồng

Cộng đồng cần nguồn lực ổn định để duy trì hoạt động tuần tra, bảo vệ và phát triển rừng. Việc chi trả thù lao cho lực lượng bảo vệ rừng là yếu tố then chốt để đảm bảo tính liên tục.

4.2. Thiết lập cơ chế giải quyết xung đột và giám sát minh bạch

Cơ chế độc lập, có sự tham gia của bên thứ ba (như tổ chức xã hội dân sự), giúp xử lý công bằng các vi phạm, đặc biệt khi liên quan đến người có ảnh hưởng trong địa phương.

V. Ứng dụng thực tiễn và bài học từ nghiên cứu định tính

Nghiên cứu tại thôn Kăn Sâm cho thấy phân quyền quản lý rừng không tự động dẫn đến quản lý hiệu quả nếu thiếu điều kiện hỗ trợ. Dù cộng đồng được giao rừng, họ vẫn không thể thực thi đầy đủ quyền ngăn chặn/loại trừ do thiếu nguồn lực và áp lực xã hội. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi có sự tham gia chủ động của già làngtrưởng thôn, cộng đồng có thể duy trì một số hoạt động bảo vệ rừng trong thời gian ngắn. Điều này cho thấy vai trò then chốt của thể chế xã hội địa phương trong việc lấp đầy khoảng trống pháp lý. Bài học rút ra là: chính sách quyền sở hữu cộng đồng cần được thiết kế linh hoạt, dựa trên hiểu biết sâu sắc về cấu trúc xã hội, văn hóa và kinh tế tại từng địa phương. Không có mô hình “một kích cỡ phù hợp tất cả”. Thay vào đó, cần tiếp cận có chọn lọc, lấy cộng đồng làm trung tâm và coi phân quyền như một quá trình liên tục, không phải sự kiện đơn lẻ.

5.1. Bài học từ thực tiễn quản lý rừng tại thôn Kăn Sâm

Mô hình tuần tra luân phiên ban đầu hiệu quả nhưng thất bại do thiếu động lực tài chính. Điều này nhấn mạnh nhu cầu thiết kế cơ chế khuyến khích bền vững, không chỉ dựa trên tinh thần tự nguyện.

5.2. Vai trò của thể chế xã hội trong thực thi quyền sở hữu

Các thể chế xã hội địa phương như già làng, hội đồng thôn đóng vai trò trung gian quan trọng giữa pháp luật và thực tiễn, giúp cộng đồng vận hành quyền sở hữu cộng đồng dù thiếu khung pháp lý đầy đủ.

VI. Tương lai của phân quyền quản lý rừng và quyền sở hữu cộng đồng

Tương lai của phân quyền quản lý rừng tại Việt Nam phụ thuộc vào khả năng cải cách thể chế để thu hẹp khoảng cách giữa quyền chính thứcquyền không chính thức. Xu hướng toàn cầu đang nghiêng về mô hình sở hữu cộng đồng như một giải pháp bền vững cho bảo tồn và sinh kế. Tuy nhiên, để thành công, Việt Nam cần: (1) sửa đổi Luật Lâm nghiệp để công nhận đầy đủ bó quyền cho cộng đồng; (2) xây dựng quỹ hỗ trợ rừng cộng đồng; (3) lồng ghép quản lý rừng cộng đồng vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cấp địa phương. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của khoa học xã hội trong thiết kế chính sách, đảm bảo rằng phân quyền không chỉ là chuyển giao tài sản, mà là trao quyền thực sự – kèm theo năng lực và trách nhiệm. Khi đó, quyền sở hữu cộng đồng sẽ không còn là khái niệm lý thuyết, mà trở thành công cụ sống động để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao sinh kế cho người dân vùng núi.

6.1. Cải cách pháp lý để công nhận đầy đủ bó quyền

Luật pháp cần điều chỉnh để công nhận rõ ràng cả năm quyền trong “bó quyền”, đặc biệt là quyền chuyển nhượngquyền ngăn chặn, giúp cộng đồng có đủ công cụ pháp lý để tự bảo vệ rừng.

6.2. Tích hợp quản lý rừng cộng đồng vào chiến lược phát triển địa phương

Việc lồng ghép quản lý rừng cộng đồng vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp xã, huyện sẽ đảm bảo tính bền vững và sự cam kết lâu dài từ chính quyền địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn sự phân quyền trong quản lý rừng ảnh hưởng như thế nào đến quyền sở hữu trong quản lý rừng cộng đồng nghiên cứu trường hợp ở vùng cao thừa thiên huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

nguyên thiên nhiên: sở hữu nhà nước (state property regime), sé hu cé nhin (private property regime), sở hữu cổng cộng (common properry regime) va tiếp cận tự do (non-properry regime/onen access). Không có một loại chế độ sở hữu nào là tuyệt đối hoàn toàn, phần lớn nó chuyển tử chế độ sở hữu này sang chế độ sở hữu khác tùy thuộc vào sự thay đổi bởi cánh xã hội va chính trị Trong hối cảnh phân quyền trong quản lý rừng ở Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng tiếp cận "bó quyền” của Schalager and Ostrom (1392) để phân tích sự thay đổi về quyền sở hữu sau khi giao rừng cho cộng đẳng. Tiếp cận “thể quyền" này được điều chỉnh cho phủ hợp với bối cảnh quản ly rửng ở Việt Nam như sau: + Quyén tiếp cận: Quyền di vào các khu rừng đã dược giao, nhưng chỉ để nghỉ ngơi, thư giãn chứ không được tác động vào rừng, «_ Quyền khai thác/thu hồi: Quyển thu hái các sản phẩm rửng như là quyền được khai thác gốvà thu hái các lâm sắn ngoài gố (LSNG). «_ Quyên quản lý: Quyền được sử dụng đất lâm nghiệp không có rừng cho sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật, trồng cây trong ring, tỉa thưa va lâm giảu rừng, «_ Quyền ngắn chặn/loại crt: Quyền ngăn chặn những người vi phạm việc khai thác gỗ hay bất ky hoạt động nào mà không được phép và quyền quyết định ai được phép khai thác gố và thu hái LNG trong rừng được giao.

+ Quyền chuyển nhượng: Quyền chuyển nhượng, rrao đổi, cho thuê, thừa kể, và thể chấp rừng được sáo. Năm quyền trên có thể được xem xét dưới góc độ quyền chính thức (fomal right) và quyền không chính thức (inforral right). Quyền chính thức là quyền được luật pháp công nhận, Quyền không chính thức liên quan đến thực tiến hàng ngày (hoặc trái nghiệm) trong các trường hợp mã các quyền này không được luật pháp công nhận chính thức. Các quyển này được xác định và những người sử dụng tài ngưyên bắt buộc phải tuân thủ (Schalager and Ostrom, 1992).

Phương pháp thu thập số liệu Nghiên cứu này thu thập cả số liệu thử cấp và số liệu sơ cấp. Các số liệu thu thập được chủ yếu mang tính định tính. Để thu thập các dữ liệu liên quan đến để tải nghiên cứu, chúng tôi đã kết hợp một vải phương pháp (công cụ) như: tam khảo tài liệu thứ cấp, tháo luận nhóm kết hợp với phòng vấn sâu. Tham khảo tài liệu thử cẤp.

Tham khảo tài liệu thử cấp để thu thập các thông tin về điều kiện cơ bản của điểm nghiên rứu, các chính sách và pháp luật lâm nghiệp và các vấn đề khác có liền quan đến điểm nghiên cứu. Tải liệu thứ cấp dược thu thập từ các nguồn khác nhau như niên giám thống kê, các văn bản pháp luật lâm nghiệp, các báo cáo tử các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương. Thảo luận nhám kết hợp với phỏng vấn sâu Thảo luận nhóm kết hợp với phỏng vẩn sâu được sử dụng để thu thập các thông tin định tính. Chúng tôi đã tiển hảnh thảo luận nhóm với hai nhóm khác nhau: (I) nhám “người nội bộ” bao gỗm trướng than, ban quản lý rừng thôn/cộng đổng, già làng, tổ trưởng tổ bảo vệ rừng và một sổ nông dân nòng cốt; và (2) nhóm “người ngoài” bao gầm cán bộ kiểm lâm, căn bộ xã, cán hộ huyện.

Trong quá trình thảo luận nhóm. chúng tôi đã kết hợp phỏng vấn chuyên sâu với một số người cung cấp thông tín chỉnh để có được thông tin chỉ tiết hơn, cũng như biết được quan điểm của họ về các vấn để nghiên cứu Phương pháp phân tích thông tin Khung ke của nghiên cứu này (Hình |) xem rừng cộng đồng là điểm "đi vào” (entry poÌnt trong phạm vi điểm nghiên cứu và sự chuyển đổi quyễn sở hữu đổi với rừng là sự chuyển giao tử sở hữu Nhà nước sang sở hữu cộng đồng. Dựa vào khung khái niệm này, trước hết chúng tôi xác định những người nắm giữ quyển và những quyén gi (bó quyền) mà họ nắm gi. Tiếp đến là nghiên cứu họ thực hiện các Phin1 Ba dang sinh hoe vA bo edn 45 quyền đỏ như thế nào, bao gồm cả quyền chính thức và quyền không chính thức.

Cuối cùng, chúng tôi phân tích các nguyên nhân din dén “khoảng cách (gap)" gida quyền chính thức và quyền không chinh thức. Đây là một nghiên cứu mang tính chất định tính, các dữ liệu thu thập được đều được sắp xếp, phân loại và phân tích theo từng chủ đề đã được trình bày ở khung khái niệm nêu trên. Các sơ đồ, bảng biểu được sử dụng để minh họa và giải thích cho kết quả nghiên cứu. chính thức Thế quyền Thực hiện oe Người giữ quyền ~ Tiếp cận ~ Nhà nước ~ Khai thác/thu hồi Khoảng - Cộng đồng/hôn Nắm giữ - Quản lý cách ~ Người ngoài ~ Ngăn chặn/loại trừ.

-CHufển nhượng lung Quyền không chỉnh thức Thay đổi Sự chuyển đổi quyền sở hữu về rừng Nguyễn nhân ~ Quan hệ xã hội ~ Chính sách Nhà nước ~ Khác Sự phân quyền trong quản lý rừng. Giao rừng cho cộng đồng/thôn Hình I. Khung khái niệm của nghiên cửu KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Những thông tin cơ bản của thôn Kăn Sâm và thôn Pahy, xã Hồng Hạ, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Nghiên cửu nảy được tiển hành ở hai thôn của vùng cao Thừa Thiên Huế. Thôn Kăn Sâm được chon đại diện cho các cộng đồng được Nhà nước giao rửng.

Thôn Pahy được chọn đại diện cho các thôn quản lý rừng truyền thống (chưa được Nhả nước giao rừng). "Thôn Kăn Sâm chỉ cỏ dân tộc Cơ Tu sinh sống và cỏ 40 hộ. Thôn Pahy có 76 hộ, trong đỏ có 3l hộ Tà Ôi, I5 hộ Pa Cô, I2 hộ Pa Hy, 3 hộ Cơ Tu và I5 hộ Kinh. Ở cả hai thôn, đất canh tác lúa nước rất ít và chú yếu nằm dọc ở hai bên các khe, suối hoặc ở những vùng thung lũng thấp.

Đối với đất canh tác nương rấy thì người dân thưởng trồng lúa rấy, sắn và một sổ loài cây khác như ngô, chuối, đậu. đất canh tác nương rấy kém màu mỡ, nên người dân chỉ trồng lủa trong năm đầu. Hiện nay, người dân sống chủ yếu dựa vào canh tác lúa nước và canh tác nương ray. Tuy nhiên, ở cả hai thôn đều không đủ đất canh tác lúa nước, nên hầu hết các hộ gia định đều thiếu lương thực, nên họ vấn gây áp lực rất lớn vào rửng, Động cơ giao rừng tự nhiên cho cộng đồng Cũng như các vùng khắc trong nước, dưới áp lực của nhu cầu bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học ở cấp quốc tế và quốc gia, UBND huyện và UBND xã cổ gắng làm giảm việc phá rửng, đặc biệt là phá rừng tự nhiên, thông qua việc giao rừng cho cộng đồng.

UBND xã hoàn toàn đồng ý với quyết định của UBND huyện về việc giao rừng tự nhiên cho cộng đồng dân cư thôn quản lý, vì những Ký yếu Hội thảo Quốcgi lin cha diện tích này đều là rừng nghèo và bị suy thoái nghiêm trọng, không đủ để tiếp tục khai thác trong vỏng 15-20 năm tới. Rừng được giao cho cộng đồng th rất nghèo, hơn nữa sau khi được giao, cộng đồng lại không có chế tài đảm bảo và thiếu sự hổ trợ về kỹ thuật và tài chính. Vì vậy, có thể nói rằng việc giao rửng tự nhiên đã tạo cơ hội cho UBND xã chuyển chỉ phí về quản lý rừng cho cộng đồng. Một lý do khác khuyến khích chính quyền địa phương tham gịa vào tiển trinh giao rừng tự nhiên cho cộng đồng đó là những khía cạnh liên quan đến chính trị, Lý do này tương tự như trường hợp ở xã Thượng Quảng, huyện Nam Đêng - xã được chọn làm thi điểm gìao rững tự nhiên cho nhóm hộ tử năm 2003, đó là những người lãnh đạo chính quyền địa phương, đặc biệt là lãnh đạo xã, mong muốn thăng tiến lên vị trí cao hơn khi họ chấp hành tốt chỉnh sách của Nhà nước - giao rừng tự nhiễn cho nhóm hộ quản lý (Hoang Huy Tuan, 2006).

Dự án GCP hố trợ tài chinh cho chinh quyền địa phương giao rừng cho cộng đồng với hai mục tiêu chính sau: (l) có được sự ủng hộ và cam kết của cộng đồng về bảo tốn đa dạng sinh học thông qua việc thực hiện các sắng kiển của cộng đồng trong quản lý rừng và phục hồi rừng; và (2) khuyến khích quản lý rừng bền vững và cải thiện sinh kế. Động cơ khuyến khich cộng đồng dân cư thôn tham gia vào tiễn trình giao rửng là họ sẽ có được quyền pháp lý (được cấp sổ đỏ) sau khí nhận rừng, cũng như được hưởng lợi từ dự án GCP. Sau khí giao ring cho cộng đồng, GCP đã hốtrợ kính phí chơ người dân tham gìa lớp tập huấn về kỹ thuật trồng mây và trồng thử nghiệm mây và lá kè trong diện tích rửng được giao. Sự chuyển đổi quyền chính thức và quyên không chính thức đối với rừng cộng đồng dưới sự phân quyền Theo Agrawal và Ostrom (2001), bên cạnh việc tập trung vào các quyền, thì việc xác định những người nắm quyền đó cũng không kém phần quan trọng.

Trong trưởng hợp ở xã Hồng Hạ, những người nắm quyến có thể chia thành ba nhóm chính: Nhà nước (UBND huyện, UBND xã và Hạt Kiểm làm); tập thểIcộng đồng (thôn Kăn Sảm, Ban điều hảnh thên); và cá nhân (người dân thỏn Kăn Sâm, người dân thôn Pahy và người ngoài). Sự khác nhau về quyền chính thức đối với rùng giữa hai thôn Kan Sam và Pahy Tóm í, trước khí giao rừng cho công đồng đân cư thôn quản lý, rừng ở xã Hắng Hạ thuộc sở hữu của Nhà nước. Tất cả các hoạt động liên quan đến rừng đều phải được sự cho pháp của Nhà nước. xã, Hạt Kiểm lâm và BQLRPH Sông Bồ là những cơ quan đại điện cho Nhà nước chịu trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng trong phạm vị của địa phương.

Vì vậy, hợ có tất cả các quyền chính thức (quyền tiếp cận, khai thác, quản lý và ngăn chặn) để thực hiện nhiệm vụ quản lý rừng do Nhà nước giao. Trong khi đó, cộng đồngjngười dân chỉ có quyền tiếp cận. Sau khi giao rằng cho thôn Kăn Sâm quản lý, đối với thõn Pahy quyền chính thức đổi với rừng vấn không thay đổi, trong khi đó thì các quyển này đã thay đổi đăng kể trong trưởng hợp của thôn Kăn Sâm. Để quản lý rừng được giao, thân Kăn Sâm đã xây dựng quy ước quản lý bảo vệ rừng dưới sự hướng dấn của Hạt Kiếm lam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ