Luận án TS: Mức độ công bố thông tin phát triển bền vững trong mối quan hệ với chất lượng kế toán và hiệu quả hoạt động - ĐHQG TP.HCM

Phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin phát triển bền vững và chất lượng kế toán. Nâng cao minh bạch tài chính và hiệu quả quản trị doanh

Trường đại học

Đại học Kinh tế TP. HCM

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2021

225
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về công bố thông tin phát triển bền vững tại Việt Nam

Công bố thông tin phát triển bền vững (PTBV) là hoạt động các doanh nghiệp công khai các thông tin về trách nhiệm xã hội, môi trường và quản trị doanh nghiệp. Tại Việt Nam, Thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi yêu cầu các công ty niêm yết phải thực hiện báo cáo PTBV. Trước thời điểm này, việc công bố thông tin PTBV chủ yếu mang tính tự nguyện và không có khuôn khổ chuẩn mực thống nhất. Các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam đang dần nhận thức được tầm quan trọng của việc minh bạch thông tin PTBV. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Nguyệt (2021) tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã điều tra mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin PTBV với chất lượng thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Kết quả cho thấy xu hướng tăng trưởng tích cực trong công bố thông tin PTBV sau khi có quy định pháp lý.

1.1. Thực trạng công bố thông tin PTBV trước năm 2016

Trước khi Thông tư 155/2015/TT-BTC có hiệu lực, việc công bố thông tin PTBV tại Việt Nam mang tính tự phát và thiếu đồng bộ. Các nghiên cứu trước năm 2016 cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp niêm yết thực hiện báo cáo PTBV còn thấp, nội dung chủ yếu tập trung vào các hoạt động từ thiện và trách nhiệm xã hội cơ bản. Khung pháp lý chưa hoàn thiện dẫn đến sự chênh lệch lớn về chất lượng và phạm vi thông tin giữa các công ty. Doanh nghiệp lớn thường chủ động hơn trong việc công bố thông tin so với doanh nghiệp quy mô nhỏ.

1.2. Tác động của quy định pháp lý đến thực trạng PTBV

Thông tư 155/2015/TT-BTC tạo ra bước chuyển biến rõ rệt trong hoạt động công bố thông tin PTBV tại Việt Nam. Quy định này yêu cầu các công ty niêm yết phải thực hiện báo cáo PTBV hàng năm, tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất cho toàn thị trường. Sau khi thông tư có hiệu lực, số lượng doanh nghiệp công bố thông tin PTBV tăng đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng và độ sâu của thông tin vẫn còn khoảng cách so với tiêu chuẩn quốc tế GRI. Sự thay đổi này mở ra hướng nghiên cứu mới về hiệu quả thực thi chính sách.

II. Phân tích mối quan hệ giữa chất lượng thông tin kế toán và PTBV

Chất lượng thông tin kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định mức độ công bố thông tin PTBV của doanh nghiệp. Nghiên cứu quốc tế của Martínez-Ferrero và cộng sự (2015) sử dụng dữ liệu từ 747 doanh nghiệp phi tài chính tại 25 quốc gia đã chứng minh mối quan hệ tích cực giữa hai biến số này. Chất lượng thông tin kế toán được đo lường qua ba tiêu chí chính: khoản dồn tích bất thường theo mô hình Dechow và cộng sự (1995), mức độ thận trọng của kế toán theo mô hình Khan và Watts (2009), và chất lượng dồn tích theo mô hình Ball và Shivakumar (2006). Khi doanh nghiệp có hệ thống kế toán minh bạch, khả năng công bố thông tin PTBV chất lượng cao cũng tăng theo. Điều này phản ánh cam kết của ban lãnh đạo đối với tính minh bạch thông tin nói chung. Tại Việt Nam, mối quan hệ này cần được nghiên cứu trong bối cảnh đặc thù của thị trường mới nổi.

2.1. Đo lường chất lượng thông tin kế toán trong nghiên cứu

Chất lượng thông tin kế toán được đo lường thông qua nhiều phương pháp khác nhau trong nghiên cứu khoa học. Mô hình John điều chỉnh của Dechow và cộng sự (1995) đo lường mức độ quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích bất thường. Chỉ số QTLN càng thấp cho thấy chất lượng thông tin kế toán càng cao. Phương pháp hồi quy Tobit được sử dụng để xử lý dữ liệu có giới hạn trong phân tích định lượng. Sự kết hợp nhiều thang đo giúp tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

2.2. Ảnh hưởng của văn hóa quốc gia đến chất lượng kế toán

Văn hóa quốc gia có tác động đáng kể đến mức độ thận trọng trong kế toán, theo nghiên cứu của Kim và cộng sự (2012) và McDermott (2011). Các yếu tố văn hóa như khoảng cách quyền lực, chủ nghĩa tập thể ảnh hưởng đến cách thức ghi nhận và trình bày thông tin kế toán. Nghiên cứu đa quốc gia gặp hạn chế do sự không tương đồng về yêu cầu pháp lý giữa các nước. Việc nghiên cứu trong phạm vi một quốc gia giúp kiểm soát biến số văn hóa và tăng độ chính xác trong đo lường chất lượng thông tin kế toán.

III. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ PTBV và hiệu quả hoạt động

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa công bố thông tin PTBV và hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết sử dụng phương pháp định lượng kết hợp nhiều kỹ thuật phân tích. Thông tin PTBV được đo lường bằng chỉ số quốc tế GRI với thang điểm từ 0 đến 3, trong đó 0 là không báo cáo hoặc không phù hợp, 1 là mức cơ bản, 2 là mức trung bình và 3 là mức cao. Hiệu quả hoạt động được đánh giá qua các chỉ số tài chính như ROA, ROE và hệ số Tobin's Q. Mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn sau khi Thông tư 155 có hiệu lực. Phương pháp hồi quy bảng với kiểm soát các biến số kiểm soát như quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và ngành nghề kinh doanh được áp dụng. Kết quả giúp xác định mức độ ảnh hưởng của PTBV đến giá trị doanh nghiệp.

3.1. Chỉ số đo lường mức độ công bố thông tin PTBV

Chỉ số GRI (Global Reporting Initiative) là tiêu chuẩn quốc tế được sử dụng phổ biến để đánh giá mức độ công bố thông tin PTBV. Thang đo từ 0-3 cho phép phân loại chi tiết mức độ tuân thủ của doanh nghiệp. Thông tin được đánh giá dựa trên các tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị. Tại Việt Nam, việc áp dụng chỉ số GRI giúp so sánh mức độ PTBV với chuẩn mực quốc tế. Phương pháp mã hóa nội dung báo cáo đảm bảo tính khách quan trong đánh giá.

3.2. Đo lường hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết

Hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết được đo lường qua các chỉ số tài chính chính. ROA (lợi nhuận trên tổng tài sản) phản ánh khả năng sinh lời từ tài sản. ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) thể hiện hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Hệ số Tobin's Q đo lường giá trị thị trường so với giá trị sổ sách, phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư. Sự kết hợp nhiều chỉ số giúp đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động từ nhiều góc độ khác nhau.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn cho doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa công bố thông tin PTBV, chất lượng thông tin kế toán và hiệu quả hoạt động mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Kết quả cho thấy doanh nghiệp có chất lượng thông tin kế toán cao thường công bố thông tin PTBV đầy đủ hơn. Đồng thời, mức độ công bố thông tin PTBV tích cực có mối liên hệ thuận với hiệu quả hoạt động của công ty. Điều này khẳng định giá trị của tính minh bạch thông tin trong chiến lược phát triển bền vững. Các cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về công bố thông tin PTBV. Doanh nghiệp nên đầu tư vào hệ thống kế toán chất lượng cao để nâng cao uy tín trên thị trường. Nhà đầu tư có thể sử dụng thông tin PTBV như một tiêu chí đánh giá rủi ro và tiềm năng phát triển dài hạn.

4.1. Hàm ý chính sách cho cơ quan quản lý

Cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường giám sát việc thực thi Thông tư 155/2015/TT-BTC. Việc ban hành hướng dẫn chi tiết về tiêu chí đánh giá PTBV giúp doanh nghiệp dễ dàng tuân thủ hơn. Chính sách khuyến khích như ưu đãi thuế hoặc công nhận danh hiệu cho doanh nghiệp xuất sắc trong PTBV cần được nghiên cứu áp dụng. Đào tạo nguồn nhân lực kế toán có kiến thức về PTBV là nhiệm vụ cấp thiết. Hợp tác quốc tế trong xây dựng tiêu chuẩn PTBV giúp Việt Nam hội nhập tốt hơn.

4.2. Khuyến nghị cho doanh nghiệp niêm yết

Doanh nghiệp niêm yết nên xây dựng chiến lược PTBV dài hạn gắn liền với chiến lược kinh doanh tổng thể. Đầu tư vào hệ thống kế toán nội bộ giúp nâng cao chất lượng thông tin và giảm chi phí tuân thủ. Công bố thông tin PTBV không chỉ đáp ứng yêu cầu pháp lý mà còn tạo lợi thế cạnh tranh thu hút nhà đầu tư. Doanh nghiệp nên áp dụng khung GRI để đảm bảo tính chuẩn mực và quốc tế hóa thông tin. Đội ngũ quản trị cần cam kết từ cấp cao nhất để triển khai hiệu quả hoạt động PTBV.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 hướng tới việc xác định khoảng trống trong các nghiên cứu trước, từ đó làm cơ sở để tác giả đề xuất hướng nghiên cứu mới trong luận án này. Để đạt được các mục tiêu đề ra, tác giả lần lượt tổng hợp các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước từ các tạp chí uy tín như Accounting Review, Corporate Social Responsibility and Enviromental Management, Journal of Business Research, Journal of Business Ethics, Journal of Management Studies, Social Responsibility Journal, Sustainability, Review of Accounting Studies. Sau đó tác giả trình bày tổng hợp lại thành các chủ đề: (1) Tổng quan nghiên cứu thông tin PTBV ở nước ngoài; (2) Tổng quan nghiên cứu thông tin PTBV tại Việt Nam và (3) Xác định khoảng trống nghiên cứu. Nội dung cụ thể được trình bày như sau: 1.

Tổng quan nghiên cứu thông tin phát triển bền vững ở nước ngoài 1. Tổng quan nghiên cứu về thực trạng công bố thông tin phát triển bền vững Theo nghiên cứu của Adams và cộng sự (1998) cho thấy trong những giai đoạn đầu, thông tin liên quan đến trách nhiệm xã hội và môi trường ít được các doanh nghiệp quan tâm và công bố trong BCTN cũng như các báo cáo độc lập khác. Sau đó, xuất phát từ những cuộc khủng hoảng kinh tế, sự sụp đổ của các tập đoàn lớn, sự thay đổi của môi trường. nhiều câu hỏi được đặt ra liên quan đến sự PTBV của doanh nghiệp.

Một trong những kênh để đánh giá sự PTBV đó chính là thông tin PTBV mà các doanh nghiệp công bố. Do đó, để thấy được thực trạng công bố thông tin PTBV của các doanh nghiệp như thế nào, những nghiên cứu sau đây đã thực hiện các cuộc điều tra đánh giá tại nhiều quốc gia khác nhau như: - Chih và cộng sự (2008) thực hiện điều tra với bộ dữ liệu đa quốc gia gồm 46 nước trong giai đoạn từ năm 1993-2002. Chỉ số TNXH được nhóm tác giả đo lường dựa trên chỉ số phát triển toàn Thế Giới (FTSE) cho mỗi quốc gia. Kết quả thống kê cho thấy năm quốc gia có điểm số xếp hạng TNXH cao nhất lần lượt gồm Anh, Phần 10 Lan, Đan Mạch, Đức và Ý.

Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý trong cuộc điều tra này đó là điểm số xếp hạng TNXH ở hầu hết các nước thị trường mới nổi (như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Phillipines, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ. Điều này cho thấy các công ty ở các nước phát triển quan tâm nhiều đến thông tin TNXH hơn các công ty ở các nước thị trường mới nổi. - Tập trung vào thị trường các nước Châu Á, Scholtens và Kang (2013) phân tích dữ liệu gồm 139 công ty ở mười quốc gia. Điểm số TNXH được nhóm tác giả đánh giá dựa trên kết quả nghiên cứu Bền vững Châu Á.

Kết quả xếp hạng cho thấy các nước có điểm xếp hạng TNXH cao lần lượt là Úc, Ấn Độ, Nhật Bản. Nước có điểm số xếp hạng thấp gồm Pakistan, Singapore và Thái Lan. Tại thị trường Indonesia, Asrori và cộng sự (2019) đã phân tích dữ liệu thông tin TNXH và môi trường của các công ty niêm yết ngành sản xuất năm 2009 và nhận thấy mức độ công bố thông tin tương đối thấp mặc dù đã có những quy định từ phía chính phủ. - Sử dụng khuôn khổ quốc tế GRI để đánh giá thông tin PTBV, Martínez‐ Ferrero và cộng sự (2015) phân tích dữ liệu gồm 747 doanh nghiệp phi tài chính đến từ 25 quốc gia (Mỹ, Anh, Ireland, Canada, Úc, Đức, Hà Lan, Luxembourg, Áo, Đan Mạch, Nauy, Phần Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kong, Singapore và Hàn Quốc) trong giai đoạn từ năm 2002 - 2010.

Với thang điểm từ 0 đến 3, Bảng mô tả thống kê cho thấy giá trị trung bình thông tin PTBV là 0. Điều đó cho thấy, nhìn chung các công ty được điều tra có mức độ công bố thông tin PTBV theo hướng dẫn GRI chỉ ở mức cơ bản. - Nhằm điều tra xem liệu số lượng và chất lượng thông tin TNXH có khác nhau giữa các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia và Anh, Adnan và cộng sự (2018) thu thập dữ liệu gồm 203 công ty hàng đầu lấy từ bộ dữ liệu Compusat Global and Mergen Online. Nhóm tác giả cũng sử dụng khuôn khổ GRI gồm 65 chỉ số để đánh giá thông tin TNXH.

Chất lượng từng chỉ số thông tin được đánh giá theo thang điểm từ 0 đến 4. Nhóm tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích nội dung trên BCTN, Báo cáo bền vững và trang điện tử công ty. Kết quả cho thấy thông tin về môi trường được công bố 11 nhiều nhất, tiếp theo là thông tin liên quan đến lực lượng lao động, rồi đến thông tin xã hội và các vấn đề về quyền con người được công bố ít nhất. Ngoài ra, kết quả thống kê cho thấy các tập đoàn ở Anh có số lượng (dựa trên số câu) công bố thông tin TNXH nhiều nhất.

Tiếp theo là Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc. Về chất lượng thông tin TNXH, nhìn chung được đánh giá là thấp. Điểm chất lượng trung bình cho Báo cáo TNXH riêng và trang điển tử cao hơn điểm trên BCTN. Bằng việc kiểm tra T-test và Mann-Whitney, kết quả cho thấy số lượng và chất lượng thông tin TNXH có sự khác nhau đáng kể giữa bốn quốc gia.

Các công ty ở Anh cung cấp số lượng và chất lượng thông tin TNXH ở mức cao nhất. Đối với các nước đang phát triển, các công ty ở Trung Quốc cung cấp thông tin ở mức thấp nhất trên tất cả các phương tiện truyền tin. Trong khi, Malaysia được chứng minh là nước cung cấp thông tin TNXH cao nhất trên BCTN. Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của chất lượng thông tin kế toán đến mức độ công bố thông tin phát triển bền vững 1.

Bối cảnh đa quốc gia và các nước phát triển Đầu tiên, nghiên cứu của Prior và cộng sự (2008) phân tích mẫu gồm 593 công ty đến từ 26 quốc gia trong giai đoạn từ năm 2002-2004 thuộc bộ dữ liệu SiRi ProTM để kiểm định ảnh hưởng của QTLN đến mức độ công bố thông tin TNXH. Trong đó, hành vi QTLN được nhóm tác giả đo lường theo mô hình của Kothari và cộng sự (2005). Thông tin TNXH là một khái niệm đa cấu trúc được nhóm tác giả phân tích trên các nội dung liên quan đến cộng đồng, cổ đông, khách hàng, nhân viên, môi trường và nhà cung cấp. Kết quả thu được từ việc xử lý hồi quy, Prior và cộng sự (2008) nhận thấy QTLN ảnh hưởng cùng chiều đến thông tin TNXH.

Bằng việc sử dụng thang đo chất lượng các khoản dồn tích theo mô hình P. Dechow và Dichev (2002) để xác định giá trị biến chất lượng thông tin kế toán, McDermott (2011) đã tập hợp dữ liệu từ KLD STATS giai đoạn từ năm 1992-2009. Tác giả thấy rằng các doanh nghiệp công bố thông tin BCTC có giá trị thì sẽ cắt giảm các hoạt động đầu tư vào TNXH. Trong đó, hiệu quả hoạt động TNXH được đánh 12 giá dựa trên bảy tiêu chí gồm cộng đồng, quản trị công ty, sự đa dạng, mối quan hệ với nhân viên, môi trường, quyền con người và sản phẩm.

Choi và cộng sự (2013) phân tích dữ liệu trong bảy năm từ năm 2002 đến năm 2008 các công ty niêm yết trên sàn giao dịch Hàn Quốc. Để đo lường mức độ hoạt động TNXH, nhóm tác giả sử dụng bộ chỉ số KEJI. Bộ chỉ số này có bảy hạng mục gồm cấu trúc vốn, sự công bằng trong thương mại, đóng góp cho cộng đồng, sự hài lòng của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, sự hài lòng của nhân viên và những đóng góp cho sự phát triển kinh tế. Biến QTLN được đo lường theo mô hình của P.

Dechow và cộng sự (1995). Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy mức độ QTLN ảnh hưởng ngược chiều đến hoạt động TNXH tại Hàn Quốc. Điều này có nghĩa là các công ty báo cáo lợi nhuận có chất lượng thì cũng có xếp hạng TNXH tốt hơn. Cũng tập trung vào một quốc gia, Gavana và cộng sự (2017) kiểm tra ảnh hưởng của QTLN đến thông tin TNXH.

Với mẫu gồm 226 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Ý trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2015, kết quả nghiên cứu cho thấy các tập đoàn có mức độ QTLN thấp có xu hướng công bố nhiều thông tin TNXH để truyền tải hình ảnh đạo đức tốt. Để thực hiện nghiên cứu này, nhóm tác giả thu thập dữ liệu tài chính từ nguồn dữ liệu Analisi Informatizzata Delle Aziende Italiane (AIDA) và BCTC hợp nhất. Đối với dữ liệu phi tài chính, nhóm tác giả thu thập thủ công từ báo cáo TNXH mỗi năm. Thông tin TNXH được đo theo bộ chỉ số quốc tế GRI và chia thành 93 chỉ số với thang điểm đánh giá 0 và 1.

Mức độ QTLN được đo lường theo mô hình John điều chỉnh của P. Dechow và cộng sự (1995). Không chỉ giới hạn trong phạm vi thông tin TNXH, nghiên cứu về “Tác động của chất lượng thông tin kế toán đến công bố thông tin tính bền vững” được Martínez‐ Ferrero và cộng sự (2015) thực hiện và đăng trên tạp chí CSR and Environmental Management cũng đã chỉ ra những ảnh hưởng của chất lượng thông tin kế toán đến thông tin PTBV. Thông tin PTBV được nhóm tác giả đo bằng chỉ số quốc tế GRI với các giá trị từ 0 đến 3.

Trong đó giá trị 0 nếu thông tin về TNXH không được đơn vị báo cáo hoặc báo cáo không phù hợp với hướng dẫn GRI, giá trị 1 nếu các đơn vị có 13 báo cáo thông tin phù hợp với GRI ở mức cơ bản, giá trị 2 nếu thông tin được các đơn vị báo cáo phù hợp với GRI ở mức trung bình và giá trị 3 nếu các đơn vị báo cáo thông tin phù hợp với GRI ở mức cao. Mẫu được tác giả truy xuất từ bộ dữ liệu Thomson One Analytics trong giai đoạn từ năm 2002 – 2010 gồm 747 doanh nghiệp phi tài chính đến từ 25 quốc gia. Nhóm tác giả đã kết hợp ba thang đo để đánh giá chất lượng thông tin kế toán gồm QTLN thể hiện trong khoản dồn tích bất thường theo mô hình của P. Dechow và cộng sự (1995) và Kothari và cộng sự (2005); mức độ thận trọng của kế toán theo mô hình của M.

Khan và Watts (2009) và chất lượng dồn tích theo mô hình của P. Dechow và cộng sự (2010) và Ball và Shivakumar (2006).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ