chương 1 của cuốn sách: “The legal effect of treaties in domestic legal orders and the role of domestic courts: Framing the debate” (tam dịch: Hiệu lực pháp lý của điều ước quốc tế trong trật tự pháp luật quốc gia và vai trò của tòa án trong nước: Dinh hình tranh luận). Có thé xem tai liệu nay là một trong những công trình nghiên cứu toàn diện nhất các khía cạnh pháp lý cơ bản của vẫn đề nội luật hóa bao gồm khái niệm nội luật hóa, sự cần thiết và vai trò của nội luật hóa, quy trình nội luật hóa, các yếu tố ảnh hưởng đến nội luật hóa. Đặc biệt, tác giả của nghiên cứu cho rằng, các quy phạm của luật quốc tế không được thể hiện ở dạng thành văn (trong các điều khoản của điều ước) cũng có thé là đối tượng của nội luật hóa. Anthea Roberts, Paul B.
Stephan, Pierre-Hugues Verdier, Mila Versteeg (2018), Comparative International Law, Oxford University Press (tam dich: Luat quéc té so sánh). Cuốn sách này có cách tiếp cận rất độc đáo bởi luật quốc tế thường được quan niệm là một lĩnh vực pháp luật mà ở đó sự so sánh xuyên quốc gia dường như không phù hợp, khi mà tất cả các bên đều chịu sự điều chỉnh của cùng một quy tắc. Tuy nhiên, theo nhóm tác giả, các quy phạm luật quốc tế có thể được giải thích bởi các cơ quan lập pháp, hành pháp cũng như tư pháp của các quốc gia theo những cách rất khác nhau mà chính sự giải thích này có thé tac động lại và làm thay đổi những quy phạm được giải thích. Cuốn sách được thiết kế dưới dạng kỷ yếu và được kết cấu thành các nhóm chuyên đề, trong đó tập hợp các bài viết của những học giả hàng đầu về luật quốc tế và luật so sánh.
Các chuyên đề có chứa nội dung liên quan đến cách thức chuyên hóa hay chấp nhận quy phạm luật quốc tế vào PLQG năm tập trung ở phan thứ 5 “Luật quốc tế so sánh va các thiết chế trong nước: Lập pháp và hành pháp ” và phần thứ 6 “Luật quốc tế so sánh và các thiết chế trong nước: Tòa án quốc gia” của cuốn sách. Những công trình nghiên cứu nội luật hóa điều ước quốc tế từ góc nhìn của quốc gia Francis G. Jacobs, Shelly Roberts (1987), The Effect of Treaties in Domestic Law: The United Kingdom National Committee of Comparative Law: 7, Sweet & Maxwell (tam dich: Hiéu luc cua cac Điều ước quốc tế trong môi trường luật quốc gia). Công trình luận giải cụ thể về địa vị của các DUQT trong pháp luật của Liên hiệp Vương quốc Anh, nơi mà các điều ước không phat sinh bat cứ hiệu lực gì nếu không trở thành một phần của luật nội địa.
Theo các tác giả, việc đưa DUQT vào PLQG có thê diễn ra theo nhiều cách khác nhau: đòi hỏi hoạt động lập pháp căn bản hoặc chỉ cần được cấp hiệu lực bởi một đạo luật “không mang ý tưởng lập pháp”. Tài liệu này tập trung tìm hiểu quy trình thực thi pháp lý va xem xét cách thức chuyển hóa các cam kết quốc tế thành luật trong nước ở 6 quốc gia thuộc khối OECD gồm Mỹ, Anh, Đức. Pháp, Ý và Hà Lan. Hanqin Xue, Qian Jin (2009), “International Treaties in the Chinese Domestic Legal System”, Chinese Journal ofInternational Law, Vol.
Bài viết cho thay góc nhìn của các học giả Trung Quốc đối với vẫn đề thực thi ĐƯQT trong môi trường luật quốc gia ở nước này. Qua sự trình bay của hai tác giả, có thé thấy nhiều nét tương đồng giữa Trung Quốc và Việt Nam: Hiến pháp và các luật cơ bản của Trung Quốc cũng không có điều khoản chung quy định chính xác địa vị của DUQT trong hệ thống PLQG; Trung Quốc ngày càng đạt được nhiều thành tựu trong việc thực thi các cam kết quốc tế với nhiều cách thức đa dạng, bao gồm cả viện dẫn và áp dụng trực tiếp tại tòa (trong lĩnh vực dân sự, thương mại) lẫn việc được quy định lại trong luật quốc gia (lĩnh vực hình sự). Theo các tác giả, ở Trung Quốc hiện nay các DUQT có thé được thực thi theo 3 mô hình khác nhau: (i) Thực thi thông qua các biện pháp hành chính (đối với các thỏa thuận song phương ký kết với danh nghĩa chính phủ hoặc cấp bộ); (ii) Chuyên hóa thông qua hoạt động lập pháp quốc gia (thường bằng cách ban hành luật chuyên biệt hoặc sửa đồi luật đang có hiệu lực); (iii) Ap dụng trực tiếp các quy phạm điều ước. Council of Europe Staff (2001), Treaty Making: Expression of consent by states to be bound by a treaty, Kluwer Law International (tam dịch: Kết ước: Cách thức biểu thi sự chấp nhận ràng buộc bởi điều ước của các quốc gia).
Theo công trình nghiên cứu này, quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế có ảnh hưởng quan trọng tới việc duy trì và phát triển quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, quy trình, thủ tục mà mỗi quốc gia biểu thị sự ràng buộc với DUQT, trên cơ sở đó dé triển khai thực hiện trong lãnh thô quốc gia là rất khác nhau. Quy trình, thủ tục này phụ thuộc vào các quy định của Hiến pháp, VBQPPL quốc gia cũng như các điều kiện về chính trị và lịch sử của quốc gia đó. Với những nhận xét mang tính tổng quát đó, công trình cung cấp thông tin toàn diện và cập nhật về quy trình, thủ tục thé hiện sự ràng buộc của quốc gia với DUQT; quy trình, thủ tục thực hiện DUQT (trong đó có quy trình, thủ tục nội luật hóa ĐƯQT) của 39 quốc gia là thành viên của Ủy ban tư vấn pháp lý về Công pháp quốc tế (The Committee of Legal Advisers on Public International Law - CAHDI) của Hội đồng châu Âu (The Council of Europe).
lãi Christof Heyns and Frans Viljoen (2002), The impact of the United Nations human rights treaties on the domestic level, Brill (tam dịch: Tac động cua những diéu ước về quyền con người của Liên hiệp quốc ở cấp độ quốc gia). Công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện những tác động trong nước tạo ra từ sáu điều ước chính của Liên hiệp quốc về quyền con người (CERD, CESCR, CCPR, CEDAW, CAT, CRC). Những điều ước này mặc dù được chấp nhận một cách rộng rãi (tất cả các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc đều đã phê chuẩn ít nhất một điều ước) nhưng lại noi tiếng với sự yếu kém trong khâu thực thi. Giải đáp câu hỏi về mối nghi ngờ rằng những DUQT về quyền con người của Liên hiệp quốc ít có sự tác động ở cấp độ trong nước, nhóm tác giả tiễn hành những nghiên cứu khảo sát tại 20 quốc gia khác nhau gồm Úc, Braxin, Canada, Colombia, Séc, Ai cập, Estonia, Phần Lan, An Độ, Iran, Jamaica, Nhat Bản, Mexico, Philipin, Rumani, Nga, Senegal, Nam Phi, Tây Ban Nha va Zambia.
Đặc biệt, phan tổng quan về kết qua nghiên cứu (Overview of Study Results) - kết quả của việc tổng hợp và xử lý 20 bản báo cáo cụ thé từ các quốc gia - đã mô hình hóa các cơ chế thực thi ĐƯQT, các cách thức mà qua đó quy phạm điều ước được chấp nhận, tiếp hợp hoặc chuyền hóa dé thực hiện. Công trình cũng chứng minh rằng, ở cấp độ trong nước, các DUQT không chi tác động đến hoạt động lập pháp mà còn tác động đến các quyết định tư pháp cũng như sự thay đổi và phát triển chính sách. American Society of International Law (2005), National Treaty Law and Practice, Martinus Nijhoff Publishers (tạm dich: Luật điều ước của quốc gia va thực tiễn áp dụng). Cuốn sách phân tích pháp luật và thực tiễn của 19 quốc gia bao gồm Áo, Canada, Chile, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập, Pháp, Đức, Ấn Độ, Israel, Nhật Bản, Mexico, Ha Lan, Nga, Nam Phi, Thụy Si, Thái Lan, Vuong quốc Anh, và Hoa Kỳ liên quan đến việc đàm phán, ký kết thực hiện các DUQT.
Cũng tiếp cận trên quan điểm so sánh nhưng khác với cuốn “Luật quốc tế so sánh” đã giới thiệu ở trên, công trình này cung cấp những phân tích trực quan và mang tính đặc trưng hơn từ góc nhìn của từng quốc gia. Các chương của cuốn sách được thiết kế theo một đề cương chung bao gồm một bài luận viết bởi một chuyên gia đại diện cho mỗi quốc gia được khảo sát cùng với những đoạn trích luật và tài liệu liên quan. Fisnik Korenica, Dren Doli (2012), “The relationship between international treaties and domestic law: A view from Albanian constitutional law and practice’, Pace International Law Review, volume 24, issue | (tam dich: Múi quan hệ giữa điều ước quốc tế và nội luật nhìn từ luật Hiến pháp Anbani và thực tiễn). Đúng như tên gọi, trong bai việt các tác gia tiêp cận từ góc nhìn của Anbani (một nước theo chủ 12 nghĩa nhất nguyên) và pháp luật hiện hành của quốc gia này dé giải quyết mỗi quan hệ giữa DUQT và trật tự pháp luật quốc gia.
Xoay quanh mối quan hệ phức tạp này, trong thực tiễn Anbani vẫn còn nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời rõ ràng mà theo các tác giả cần phải được giải thích trên tinh thần của Hiến pháp chứ không chỉ dựa vào các điều khoản cụ thé. Dang chú ý, bài viết có phan tong thuật khá quy mô về các công trình nghiên cứu của các tác giả khác liên quan đến chủ đề bàn luận, trong đó khá nhiều quan điểm về sự chuyên hóa/ nội luật hóa DUQT đã được tóm tắt và giới thiệu một cách có hệ thống. Từ góc nhìn của các quốc gia Đông Phi, tác giả Judy Obitre-Gama có bài viết “The application of international law into national law: Policy and Practice” (tạm dịch: Việc áp dụng luật quốc tế vào luật quốc gia: Chính sách và thực tiễn) trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế của WHO về Luật kiểm soát thuốc lá toàn cầu. Bài viết trình bày nhiều ví dụ cụ thể để minh họa cho hiện tượng chuyển hóa PLQT liên quan đến lĩnh vực môi trường vào luật pháp của Uganda, Kenya, Tazania - những quốc gia nghiêng về chủ nghĩa nhị nguyên.
Tình hình nghiên cứu ở trong nước 2. Những công trình nghiên cứu đi sâu vào các khía cạnh lý luận của nội luật hóa điều ước quốc tế 2. Những công trình góp phân định hình khung lý thuyết về nội luật hóa điều ước quốc té Công trình đầu tiên có tính chất nghiên cứu khái quát về nội luật hóa phải nhắc đến là dé tài nghiên cứu cấp Bộ "Nội luật hóa các điều ước quốc tế Việt Nam kỷ kết và tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc té” do TS. Hoàng Phước Hiệp làm chủ nhiệm (Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, năm 2007).