Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Trần nợ công ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Bình, chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số 9340410) tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Văn Thạch và PGS.TS Vũ Thanh Sơn.

Tính cấp thiết và bối cảnh nghiên cứu

Vay nợ công là phương thức quan trọng giúp các quốc gia đang phát triển huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội khi nguồn thu ngân sách nội địa còn hạn hẹp. Tại Việt Nam, nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông và đô thị là rất lớn. Mức chi tiêu cho hạ tầng chiếm khoảng 6% GDP hàng năm, trong đó 90% nguồn vốn hình thành từ tài chính công. Theo đánh giá của Trung tâm Cơ sở hạ tầng toàn cầu (Global Infrastructure Hub), Việt Nam xếp thứ 77/141 quốc gia về cơ sở hạ tầng tổng thể và cần nguồn vốn đầu tư khoảng 25 tỷ USD/năm trong vòng 20 năm tới (giai đoạn 2020–2040), cao hơn 5 tỷ USD/năm so với các ước tính trước đây. Mục tiêu phát triển mạng lưới đường cao tốc đặt ra từ 1.290 km hiện nay lên 5.000 km vào năm 2030 và trên 9.000 km vào năm 2050.

Trong thực tiễn quản lý tài chính công, trần nợ công đã được Thủ tướng Chính phủ quy định tại Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 27/7/2012 (áp dụng cho giai đoạn 2011–2020 với mức trần 65% GDP) và Quyết định số 460/QĐ-TTg (áp dụng cho giai đoạn 2021–2030 với mức trần 60% GDP). Tuy nhiên, các mức trần này chủ yếu tham khảo từ khuyến nghị chung của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) dành cho nhóm quốc gia mới nổi, chưa được tính toán dựa trên chuỗi dữ liệu thực nghiệm đặc thù của Việt Nam, đồng thời chưa xác định được ngưỡng nợ công tối ưu trong mối tương quan với các mục tiêu tăng trưởng và an toàn tài khóa.

Khoảng trống nghiên cứu

Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam trước đây (như Sử Đình Thành, 2012; Nguyễn Hữu Tuấn, 2012; Đào Văn Hùng, 2016) chủ yếu sử dụng mô hình hồi quy phi tuyến đơn ngưỡng để đưa ra một điểm ngưỡng cố định (từ 65% đến 75,8% GDP) trên tập dữ liệu trước năm 2020. Cách tiếp cận đơn ngưỡng này chưa phản ánh được sự biến động mềm dẻo của nền kinh tế, chưa thiết lập được "khoảng nợ công an toàn" và "ngưỡng nợ công tối ưu" theo nguyên lý khoảng cách kép để ứng phó với các cú sốc vĩ mô bất ngờ (như đại dịch Covid-19 giai đoạn 2020–2021).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định trần nợ công, ngưỡng nợ công tối ưu cho Việt Nam nhằm đề xuất áp dụng cho giai đoạn 2025–2030, tạo đòn bẩy dư địa đầu tư công quốc gia, phục vụ công tác điều tiết quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Để hoàn thành mục tiêu trên, luận án thực hiện 8 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về trần nợ công nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu.
  2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về trần nợ công và xây dựng khung lý thuyết xác định trần nợ công, ngưỡng nợ công tối ưu áp dụng cho Việt Nam.
  3. Đánh giá thực trạng quy định và thực thi trần nợ công ở Việt Nam, chỉ rõ các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
  4. Xây dựng mô hình tự hồi quy đa ngưỡng phi tuyến theo nguyên lý khoảng cách kép để xác định các điểm ngưỡng nợ công, khoảng nợ công an toàn và trần nợ công tối ưu của Việt Nam từ dữ liệu chuỗi thời gian 1991–2022.
  5. Xác định mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế trên phần mềm Stata; ước lượng các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế trong khoảng nợ công an toàn bằng mô hình hồi quy tuyến tính.
  6. Khảo sát, phỏng vấn chuyên gia và cán bộ quản lý về trần nợ công và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng trần nợ công tối ưu tại Việt Nam.
  7. Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các dự báo kinh tế đến năm 2030 để xây dựng kịch bản dự báo trần nợ công cho giai đoạn 2024–2030.
  8. Đề xuất trần nợ công tối ưu cho Việt Nam giai đoạn 2024–2030 cùng hệ thống giải pháp, kiến nghị chính sách gửi đến các cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Trần nợ công Việt Nam, bao gồm việc xác định trần nợ công, ngưỡng nợ công tối ưu, khoảng nợ công an toàn và các cơ chế, chính sách áp dụng trần nợ công tối ưu.
  • Phạm vi không gian: Dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam thu thập từ Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Bộ Giao thông vận tải. Khảo sát chuyên gia được tiến hành tại Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Vụ Ngân sách Nhà nước (Bộ Tài chính), Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Vụ Quản lý Ngoại hối (Ngân hàng Nhà nước) cùng các nhà khoa học chuyên ngành.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu chuỗi thời gian thứ cấp phục vụ phân tích thực nghiệm từ năm 1991 đến năm 2022 (bao gồm cả các năm chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 là 2020 và 2021). Phạm vi thời gian đề xuất giải pháp và kịch bản áp dụng trần nợ công tối ưu hướng tới giai đoạn 2024–2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến hai chủ đề chính:

Hướng nghiên cứu về tính bền vững của nợ công và tác động lên tăng trưởng kinh tế

Các nghiên cứu của Elmendorf & Mankiw (1999), Rogoff (2004), Krugman (1988), Sachs (1989), Ayadi (1999) chỉ ra tính hai mặt của nợ công: trong ngắn hạn, nợ công tài trợ thâm hụt ngân sách có thể kích thích tổng cầu và tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên trong dài hạn, nợ công tích lũy quá mức sẽ gây ra hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân, gia tăng lãi suất dài hạn, tăng rủi ro lạm phát và bóp méo hệ thống thuế tương lai.

Tại cấp độ quốc gia và khu vực:

  • Bal & Rath (2014) sử dụng mô hình ARDL và mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) cho dữ liệu Ấn Độ giai đoạn 1980–2011, khẳng định nợ chính phủ và nghĩa vụ trả nợ tác động tiêu cực đến tăng trưởng trong dài hạn.
  • Panizza & Presbitero (2014) nghiên cứu khối OECD và chỉ ra mối tương quan nghịch giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.
  • Makin & Pearce (2014) phân tích tính bền vững nợ công tại Úc sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.
  • Ibrahim Doğan & Flaik Bilgili (2014) sử dụng mô hình Markov cho dữ liệu Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1974–2009, phát hiện nợ nước ngoài có tác động tiêu cực đến tăng trưởng mạnh hơn vay nợ tư nhân.
  • Brida, Gómez & Seijas (2017) phân tích cụm trên 16 quốc gia giai đoạn 2008–2017.
  • Eberhardt & Presbitero (2013, 2015) khảo sát mối quan hệ phi tuyến trên mẫu dữ liệu đa quốc gia.
  • Tại Việt Nam: Bùi Đại Dũng (2012) nghiên cứu chi tiêu công và phát triển bền vững; Phạm Thế Anh (2013) thuộc dự án của UNDP và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã đánh giá rủi ro thâm hụt tài khóa và nợ công ở Việt Nam; Hoàng Khắc Lịch & Dương Cẩm Tú (2018) nghiên cứu mô hình dữ liệu mảng trên 58 quốc gia.

Hướng nghiên cứu về xác định trần nợ công và ngưỡng nợ công

Các công trình quốc tế và trong nước đã áp dụng nhiều kỹ thuật kinh tế lượng để ước lượng ngưỡng nợ công:

  • Reinhart & Rogoff (2010): Phân tích 44 quốc gia, chỉ ra ngưỡng nợ 90% GDP mà khi vượt qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút rõ rệt.
  • Presbitero (2010): Nghiên cứu các nước đang phát triển giai đoạn 1990–2007, ghi nhận ngưỡng 90% GDP phụ thuộc vào chất lượng thể chế (CPIA).
  • Checherita-Westphal & Rother (2012): Phân tích 12 quốc gia khu vực Eurozone giai đoạn 1970–2008, tìm thấy ngưỡng nợ công nằm trong khoảng 90–100% GDP (tác động tiêu cực có thể bắt đầu từ mức 70–80% GDP).
  • Caner & cộng sự (2010): Nghiên cứu 101 quốc gia giai đoạn 1980–2008, xác định ngưỡng nợ chung là 77% GDP (với nhóm nước đang phát triển là 64% GDP).
  • Lisa Drankes, Thomas, Craigwell & Greenidge (2012): Khảo sát khu vực Caribe, tìm ra khoảng nợ an toàn 30–54% GDP, ngưỡng tối ưu dưới 30% GDP và ngưỡng chịu đựng 56% GDP.
  • Tsangyao Chang & Gengnan Chiang (2010): Sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng cho các nước OECD, ước lượng ngưỡng nợ tối ưu đạt 66,64% GDP.
  • Chen & cộng sự (2020): Nghiên cứu 65 nền kinh tế phát triển và đang phát triển giai đoạn 1991–2014, xác định ngưỡng đầu tư công và ngưỡng nợ công tối ưu (đối với Trung Quốc là 41,14% GDP).
  • Spilioti & Vamvoukas (2015): Xác định trần nợ công của Hy Lạp là 110% GDP.
  • Osinubi & cộng sự (2010): Xác định ngưỡng nợ nước ngoài của Nigeria là 60% GDP thông qua đường cong Laffer.
  • Trần Thanh Ngân (2018): Sử dụng hồi quy ngưỡng dữ liệu mảng cho 14 nền kinh tế mới nổi (1999–2016), tìm ra giới hạn nợ 40–55% GDP đối với các nước ngoài khu vực Mỹ Latinh.
  • Tại Việt Nam: Nguyễn Hữu Tuấn (2012) áp dụng mô hình đường cong Laffer cho dữ liệu 1986–2009, tìm ra điểm tối ưu tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP thực là 65%; Sử Đình Thành (2012) dùng phương pháp hồi quy ngưỡng phi tuyến của Hansen (1996, 2000) giai đoạn 1990–2010, đưa ra ngưỡng nợ 75,8% GDP; Đào Văn Hùng (2016) nghiên cứu dữ liệu 1995–2013, đề xuất ngưỡng nợ 68–70% GDP giai đoạn 2016–2020.
Tác giả (Năm) Chuỗi số liệu Mẫu nghiên cứu Phương pháp / Mô hình Kết quả ngưỡng nợ công
Reinhart & Rogoff (2010) 1900–2009 44 quốc gia Hồi quy phi tuyến Ngưỡng 90% GDP
Checherita-Westphal & Rother (2012) 1970–2008 12 nước Eurozone Hồi quy phi tuyến bậc hai 90–100% GDP
Caner & cộng sự (2010) 1980–2008 101 quốc gia Hồi quy phi tuyến dữ liệu mảng 77% GDP (chung), 64% GDP (đang phát triển)
Lisa Drankes & cộng sự (2012) Chuỗi thời gian Khu vực Caribe Hồi quy ngưỡng phi tuyến Tối ưu <30% GDP; An toàn 30–54% GDP; Chịu đựng 56% GDP
Tsangyao Chang & Chiang (2010) Chuỗi thời gian Các nước OECD Hồi quy ngưỡng (OLS) 66,64% GDP
Sử Đình Thành (2012) 1990–2010 Việt Nam Hồi quy ngưỡng phi tuyến (Hansen 2000) 75,8% GDP (đơn ngưỡng)
Đào Văn Hùng (2016) 1995–2013 Việt Nam Hồi quy tham số ngưỡng 68–70% GDP (đơn ngưỡng)
Nguyễn Hữu Tuấn (2012) 1986–2009 Việt Nam Đồng liên kết, đường cong Laffer 65% GDP (nợ nước ngoài/GDP thực)

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Luận án định vị nghiên cứu của mình thông qua việc giải quyết 4 khoảng trống học thuật và thực tiễn:

  1. Phương pháp đa ngưỡng khoảng cách kép: Khắc phục hạn chế của các mô hình đơn ngưỡng cứng nhắc trước đây tại Việt Nam bằng việc áp dụng mô hình tự hồi quy đa ngưỡng của Hansen (2000), xác định đồng thời 2 điểm ngưỡng để hình thành 3 đường xu hướng tăng trưởng, xác lập khoảng nợ công an toàn và ngưỡng nợ công tối ưu.
  2. Khung lý thuyết nợ công mềm dẻo: Xây dựng khung phân tích hoàn chỉnh kết hợp giữa ngưỡng tối ưu, khoảng an toàn và ngưỡng chịu đựng, hỗ trợ hoạch định chính sách thích ứng linh hoạt với các biến động kinh tế.
  3. Mở rộng chuỗi số liệu bao gồm giai đoạn dịch bệnh: Sử dụng bộ dữ liệu cập nhật từ năm 1991 đến năm 2022, bao hàm các biến động vĩ mô bất thường của giai đoạn đại dịch Covid-19 (2020–2021).
  4. Tích hợp định lượng khảo sát chuyên gia: Kết hợp phân tích kinh tế lượng vĩ mô với phương pháp khảo sát, phỏng vấn sâu cán bộ quản lý nợ công và nhà khoa học để lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách trần nợ công tại Việt Nam đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống khái niệm và khung lý thuyết

Luận án xây dựng và chuẩn hóa các khái niệm chuyên ngành:

  • Trần nợ công: Mức tỷ lệ nợ công so với GDP cao nhất mà một quốc gia quy định hoặc được giới hạn nhằm đảm bảo an ninh tài chính và ổn định kinh tế vĩ mô.
  • Trần nợ công tối ưu: Mức nợ công trên GDP mà tại đó việc huy động và sử dụng vốn vay nợ công tạo ra tác động tích cực lớn nhất đến tăng trưởng kinh tế mà không gây mất an toàn tài chính.
  • Ngưỡng nợ công an toàn và khoảng nợ công an toàn: Tập hợp các mức nợ công nằm giữa ngưỡng nợ thấp và ngưỡng nợ trên, đảm bảo nền kinh tế duy trì được sự tăng trưởng ổn định và có dư địa dự phòng trước các khoản nợ bất ngờ.
  • Ngưỡng nợ công chịu đựng: Mức giới hạn nợ tối đa mà nếu vượt qua, rủi ro vỡ nợ và suy thoái kinh tế sẽ gia tăng nhanh chóng.

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết đường cong Laffer nợ (Debt Laffer Curve) để mô tả quan hệ phi tuyến hình parabol ngược giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Ở phần dốc lên của đường cong, sự gia tăng của nợ công hỗ trợ tích lũy vốn và thúc đẩy sản lượng; khi đạt tới đỉnh (ngưỡng tối ưu), việc gia tăng nợ công sẽ chuyển sang phần dốc xuống do chi phí trả nợ và hiệu ứng lấn át làm suy giảm tăng trưởng. Luận án cũng tham chiếu khung đánh giá tính bền vững nợ DSF (2017) của IMF/WB dựa trên chỉ số năng lực thể chế và chính sách (CI).

Phương pháp nghiên cứu định tính

  • Phân tích tài liệu thứ cấp, văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 958/QĐ-TTg, Quyết định 460/QĐ-TTg), các chiến lược nợ công quốc gia và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
  • Phương pháp tổng hợp, so sánh và phân tích logic lịch sử để đánh giá thành tựu và hạn chế của việc thực hiện trần nợ công tại Việt Nam qua các thời kỳ.
  • Phỏng vấn chuyên sâu trực tiếp đối với các nhà quản lý nợ công thuộc Bộ Tài chính (Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Vụ Ngân sách Nhà nước), Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Ngân hàng Nhà nước (Vụ Quản lý Ngoại hối) và các chuyên gia kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu định lượng

Luận án thiết lập quy trình phân tích kinh tế lượng trên phần mềm Stata gồm 5 công cụ chính:

  1. Mô hình tự hồi quy đa ngưỡng (Threshold Regression) của Hansen (2000): Sử dụng kỹ thuật bình phương nhỏ nhất phi tuyến với biến ngưỡng là tỷ lệ nợ công/GDP để kiểm định sự tồn tại của 2 điểm ngưỡng nợ công theo nguyên lý khoảng cách kép.
  2. Mô hình hồi quy phi tuyến bậc hai: Kiểm định mối quan hệ phi tuyến dạng đường cong Laffer giữa tỷ lệ nợ công/GDP và GDP bình quân đầu người trong toàn bộ chuỗi dữ liệu 1991–2022.
  3. Mô hình hồi quy tuyến tính trong khoảng nợ công an toàn: Ước lượng mức độ tác động của nợ công và các biến vĩ mô khác lên tăng trưởng kinh tế khi nợ công vận động trong vùng an toàn đã xác định.
  4. Mô hình hồi quy dự báo của Martin Plodt và Claire Reicher (2014): Mô phỏng các kịch bản diễn biến nợ công và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2024–2030.
  5. Kỹ thuật xử lý dữ liệu khảo sát chuyên gia: Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình áp dụng trần nợ công tối ưu.
  6. Kiểm định chẩn đoán mô hình: Thực hiện kiểm định đa cộng tuyến (hệ số VIF) và kiểm định phương sai thay đổi (White/Breusch-Pagan test) để bảo đảm tính không chệch của các ước lượng.

Nguồn tư liệu và hệ thống biến số

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Biến phụ thuộc: GDP bình quân đầu người ($GDP_{per}$) hoặc tốc độ tăng trưởng kinh tế.
  • Biến độc lập chính và biến ngưỡng: Tỷ lệ nợ công so với GDP ($DEBT$).
  • Các biến kiểm soát vĩ mô: Tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP ($INV$), tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài/GDP ($FDI$), chỉ số giá tiêu dùng ($CPI$), độ mở của nền kinh tế ($OPEN$ = Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP), tỷ lệ thu ngân sách nhà nước/GDP ($REV$).
  • Nguồn dữ liệu: Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, Bản tin nợ công của Bộ Tài chính, cơ sở dữ liệu World Development Indicators của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) giai đoạn 1991–2022.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về trần nợ công

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước về tính bền vững của nợ công, tác động của nợ công lên tăng trưởng và phương pháp xác định ngưỡng nợ công. Tác giả chỉ ra rằng quan điểm về trần nợ công trên thế giới chia thành hai luồng: phòng ngừa rủi ro khủng hoảng nợ (như bài học của Hy Lạp khi nợ công đạt 152% GDP, Ý đạt 120% GDP) và tận dụng nợ công làm đòn bẩy tài khóa phục vụ đầu tư phát triển (như các nước phát triển Mỹ, Nhật Bản). Chương 1 tổng kết 20 công trình tiêu biểu, xây dựng bảng đối sánh các khoảng trống nghiên cứu và khẳng định tính cần thiết của việc xây dựng mô hình đa ngưỡng áp dụng riêng cho dữ liệu Việt Nam giai đoạn 1991–2022 có tính đến biến cố đại dịch Covid-19.

Chương 2: Cơ sở lý luận về trần nợ công

Chương 2 trình bày khung lý luận về trần nợ công, làm rõ vai trò của trần nợ công trong việc ổn định vĩ mô, duy trì kỷ luật ngân sách và phòng ngừa khủng hoảng tài chính. Tác giả phân tích các yếu tố tác động đến việc xác định trần nợ công bao gồm: quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng lực trả nợ của ngân sách, hiệu quả sử dụng vốn vay, mức độ phát triển của thị trường tài chính nội địa và chất lượng thể chế. Chương này làm rõ cơ chế vận hành của đường cong Laffer nợ (Hình 2.2 trong luận án) và giới thiệu khung lý thuyết nợ công mềm dẻo dựa trên 3 vùng trạng thái: vùng tăng trưởng tích cực, khoảng nợ công an toàn và vùng nợ công chịu đựng/rủi ro.

Chương 3: Thực trạng trần nợ công Việt Nam

Chương 3 phân tích bức tranh thực trạng quy định và quản lý nợ công tại Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2022:

  • Thực trạng quy định: Giai đoạn 2011–2020, Chiến lược nợ công theo Quyết định 958/QĐ-TTg quy định trần nợ công không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ dưới 25% tổng thu ngân sách. Giai đoạn 2021–2030, Quyết định 460/QĐ-TTg điều chỉnh trần nợ công xuống không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP.
  • Thành tựu: Tỷ lệ nợ công/GDP giảm dần từ mức đỉnh xấp xỉ 63,7% GDP (năm 2016) xuống còn 43,1% GDP vào năm 2021 và khoảng 38% GDP năm 2022. Cơ cấu vay chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng nợ trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ với kỳ hạn dài (bình quân trên 12–13 năm) và lãi suất phát hành giảm dần; hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam được cải thiện.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Việc áp dụng một mức trần nợ công cố định cho cả giai đoạn 10 năm mang tính cơ học, chưa linh hoạt theo chu kỳ kinh tế; giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; thị trường trái phiếu thứ cấp quy mô còn hạn chế; việc quy định mức trần 60% GDP giai đoạn 2021–2030 có nguy cơ thu hẹp dư địa tài khóa cần thiết cho các dự án kết cấu hạ tầng giao thông quy mô lớn trong giai đoạn phục hồi sau Covid-19.

Chương 4: Thực nghiệm xác định trần nợ công Việt Nam

Chương 4 thực hiện các ước lượng kinh tế lượng với chuỗi số liệu 1991–2022:

  • Thống kê mô tả và xu hướng: Phân tích đồ thị và tương quan giữa nợ công/GDP, GDP bình quân đầu người, tổng vốn đầu tư/GDP, CPI, FDI/GDP, độ mở thương mại và thu ngân sách/GDP (Hình 4.1 đến Hình 4.10).
  • Kết quả ước lượng đa ngưỡng của Hansen: Kiểm định ngưỡng xác định được 2 điểm ngưỡng nợ công có ý nghĩa thống kê, chia quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng thành 3 khoảng xu hướng:
    1. Khoảng nợ công dưới ngưỡng 1 (dưới 50% GDP): Nợ công có tác động dương đồng biến rõ rệt tới tăng trưởng GDP bình quân đầu người.
    2. Khoảng nợ công an toàn (từ 50% đến 64% GDP): Nợ công tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt trạng thái tối ưu; đường xu hướng duy trì tác động tích cực đến sản lượng (Hình 4.12).
    3. Khoảng nợ công vượt ngưỡng 2 (trên 64% GDP): Đường xu hướng bắt đầu uốn cong giảm dần, hiệu ứng tích cực suy giảm và tiềm ẩn rủi ro áp lực trả nợ (Hình 4.13).
  • Kết quả hồi quy phi tuyến và kiểm định: Hàm hồi quy phi tuyến xác nhận mối quan hệ dạng parabol ngược giữa nợ công và GDP bình quân đầu người. Các kiểm định VIF cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng và kiểm định phương sai sai số thay đổi đã được xử lý bằng ước lượng vững (Robust standard errors).

Chương 5: Đề xuất trần nợ công tối ưu và giải pháp áp dụng cho Việt Nam đến năm 2030

Chương 5 ứng dụng kết quả thực nghiệm để đưa ra các đề xuất cụ thể:

  • Xác lập trần nợ công tối ưu: Đề xuất mức trần nợ công tối ưu cho Việt Nam giai đoạn 2024–2030 là trong khoảng 60% đến 64% GDP (thay vì mức khống chế cứng 60% GDP theo Quyết định 460/QĐ-TTg). Khoảng trần này giúp mở rộng dư địa tài khóa bổ sung từ 1% đến 4% GDP mỗi năm để phục vụ đầu tư các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm.
  • Dự báo kịch bản vĩ mô: Sử dụng mô hình dự báo của Martin Plodt và Claire Reicher (2014) để xây dựng các kịch bản nợ công gắn với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,5–7,0%/năm đến năm 2030 (Bảng 5.1 và 5.2). Bảng 5.4 lượng hóa tổng lượng vốn chênh lệch tăng thêm phục vụ đầu tư khi áp dụng trần nợ công tối ưu.
  • Kết quả phân tích khảo sát chuyên gia: Phân tích EFA và hồi quy trên dữ liệu khảo sát (Bảng 5.5 đến Bảng 5.9) chỉ ra các nhóm nhân tố tác động mạnh nhất đến việc áp dụng trần nợ công tối ưu gồm: Năng lực quản lý thể chế và chính sách; Hiệu quả giải ngân vốn đầu tư công; Tính minh bạch của thông tin tài khóa; Khả năng phát triển thị trường trái phiếu chính phủ.
  • Hệ thống giải pháp thực thi: Đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Hoàn thiện thể chế và khung pháp lý về quản lý nợ công linh hoạt; (2) Tăng cường hiệu quả phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công vào các dự án hạ tầng liên vùng; (3) Tái cơ cấu danh mục nợ và phát triển thị trường vốn nội tệ; (4) Nâng cao năng lực giám sát tài khóa của Quốc hội và Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận khoa học

  1. Hoàn thiện hệ thống khái niệm: Luận án đã làm rõ và phân định khoa học các khái niệm: trần nợ công mềm dẻo, trần nợ công tối ưu, khoảng nợ công an toàn và ngưỡng nợ công chịu đựng.
  2. Xây dựng khung phân tích đa ngưỡng khoảng cách kép: Luận án đóng góp phương pháp luận mới trong việc xác định trần nợ công tại Việt Nam thông qua mô hình tự hồi quy đa ngưỡng (Threshold Regression) của Hansen (2000), xác lập 2 điểm ngưỡng nợ công và 3 đường xu hướng thay thế cho cách tiếp cận đơn ngưỡng truyền thống.
  3. Mô hình hóa tác động trong khoảng an toàn: Thiết lập mô hình hồi quy tuyến tính chuyên biệt đánh giá mức độ tương quan của các nhân tố vĩ mô lên tăng trưởng kinh tế khi tỷ lệ nợ công vận động trong khoảng an toàn đã được lượng hóa.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Đánh giá thực trạng toàn diện: Tổng kết bức tranh thực hiện trần nợ công giai đoạn 2011–2020 và những năm đầu giai đoạn 2021–2030, chỉ ra sự không tương thích của việc áp đặt mức trần cứng nhắc đối với yêu cầu đầu tư phát triển hạ tầng quốc gia.
  2. Đề xuất trần nợ công tối ưu cho giai đoạn 2024–2030: Đưa ra bằng chứng thực nghiệm xác định trần nợ công tối ưu của Việt Nam là 64% GDP (khoảng an toàn 50–64% GDP), tạo căn cứ khoa học cho việc nới rộng trần nợ công quy định từ 60% lên 64% GDP trong các kịch bản cần kích cầu đầu tư công.
  3. Lượng hóa nguồn lực bổ sung: Tính toán cụ thể quy mô tài chính chênh lệch có thể huy động thêm từ nợ công tối ưu để bổ sung cho các chương trình mục tiêu quốc gia về đường cao tốc và hạ tầng kỹ thuật đến năm 2030.
  4. Hệ thống kiến nghị chính sách chuyên biệt: Luận án đề xuất các khuyến nghị cụ thể tới 5 cơ quan quản lý nhà nước:
    • Văn phòng Chính phủ: Tham mưu điều chỉnh linh hoạt trần nợ công theo từng giai đoạn phát triển.
    • Bộ Tài chính: Cải tiến phương pháp xác định trần nợ công, tái cơ cấu kỳ hạn và chi phí phát hành trái phiếu chính phủ.
    • Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Nâng cao chất lượng thẩm định và hiệu quả giải ngân các dự án đầu tư công trọng điểm.
    • Ngân hàng Nhà nước: Phối hợp hài hòa giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, quản lý ổn định thị trường ngoại hối và lãi suất.
    • Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia: Nâng cao năng lực cảnh báo sớm rủi ro nợ công và giám sát an toàn tài chính vĩ mô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 1991–2022 ở cấp độ vĩ mô toàn quốc; do các giới hạn về tính sẵn có và mức độ chi tiết của dữ liệu công khai, việc bóc tách chuyên sâu theo từng cấu phần nợ (như nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp nhà nước, nợ chính quyền địa phương) trong mô hình đa ngưỡng còn gặp những khó khăn nhất định. Mẫu khảo sát chuyên gia tập trung vào nhóm cán bộ quản lý và chuyên gia tại các cơ quan trung ương ở Hà Nội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng chuỗi số liệu sau năm 2022 khi các biến số vĩ mô hậu đại dịch Covid-19 và biến động kinh tế toàn cầu định hình rõ nét hơn; áp dụng mô hình hồi quy đa ngưỡng trên dữ liệu bảng phân theo ngành hoặc phân theo cấu phần nợ trong nước và nợ nước ngoài; tiếp tục lượng hóa tác động của thể chế đối với việc mở rộng khoảng nợ công an toàn sau năm 2030.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Là tài liệu tham khảo cho Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Chính phủ và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội trong quá trình rà soát, đánh giá giữa kỳ Chiến lược nợ công giai đoạn 2021–2030, xây dựng kế hoạch vay trả nợ công 5 năm và quyết định mức trần nợ công phù hợp theo từng năm.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận kinh tế lượng ứng dụng mô hình tự hồi quy đa ngưỡng (Threshold regression) của Hansen (2000), phương pháp hồi quy phi tuyến dạng đường cong Laffer nợ và mô hình dự báo của Martin Plodt & Claire Reicher (2014) trên phần mềm Stata.
  • Học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế và Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật tổng quan về bức tranh nợ công Việt Nam giai đoạn 1991–2022 và các bài học kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát trần nợ công.

Câu hỏi thường gặp

1. Trần nợ công của Việt Nam được quy định tại các văn bản pháp lý nào và có mức trần là bao nhiêu?

Trần nợ công của Việt Nam được quy định tại hai văn bản chính: Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 27/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011–2020 (quy định trần nợ công không quá 65% GDP) và Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược nợ công đến năm 2030 (quy định trần nợ công không quá 60% GDP).

2. Các nghiên cứu về ngưỡng nợ công tại Việt Nam trước đây đưa ra kết quả như thế nào và có hạn chế gì?

Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam đưa ra kết quả ngưỡng nợ công gồm: Sử Đình Thành (2012) xác định 75,8% GDP; Đào Văn Hùng (2016) đề xuất 68–70% GDP; Nguyễn Hữu Tuấn (2012) xác định điểm tối ưu nợ nước ngoài/GDP thực khoảng 65%. Hạn chế của các nghiên cứu này là sử dụng mô hình hồi quy đơn ngưỡng cứng nhắc, sử dụng chuỗi dữ liệu trước năm 2020 (chưa bao gồm giai đoạn Covid-19) và chưa xác lập được khoảng nợ công an toàn theo nguyên lý khoảng cách kép.

3. Phương pháp định lượng cốt lõi mà luận án sử dụng để xác định trần nợ công tối ưu là gì?

Luận án sử dụng mô hình tự hồi quy đa ngưỡng (Threshold Regression) của Hansen (2000) trên phần mềm Stata với chuỗi số liệu 1991–2022. Phương pháp này cho phép kiểm định sự tồn tại của 2 điểm ngưỡng nợ công theo nguyên lý khoảng cách kép, phân chia mối quan hệ nợ công và tăng trưởng thành 3 đường xu hướng nhằm nhận diện khoảng nợ công an toàn và ngưỡng tối ưu.

4. Kết quả thực nghiệm của luận án xác định khoảng nợ công an toàn và ngưỡng nợ công tối ưu của Việt Nam là bao nhiêu?

Kết quả ước lượng mô hình đa ngưỡng của luận án chỉ ra: khoảng nợ công an toàn của Việt Nam nằm trong khoảng 50% đến 64% GDP, và ngưỡng trần nợ công tối ưu đạt mức 64% GDP. Khi nợ công vượt quá 64% GDP, tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế bắt đầu suy giảm.

5. Luận án đề xuất kiến nghị áp dụng kết quả nghiên cứu tới những cơ quan quản lý nhà nước nào?

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể tới 5 cơ quan: Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Trần nợ công ở Việt Nam" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Bình là công trình nghiên cứu toàn diện về mặt lý luận và thực nghiệm trong lĩnh vực Quản lý kinh tế. Bằng việc vận dụng mô hình tự hồi quy đa ngưỡng của Hansen (2000) trên chuỗi dữ liệu vĩ mô 1991–2022 kết hợp khảo sát chuyên gia, luận án đã xác lập khoảng nợ công an toàn (50–64% GDP) và trần nợ công tối ưu (64% GDP) cho Việt Nam đến năm 2030. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để các cơ quan quản lý nhà nước xem xét điều hành chính sách nợ công linh hoạt, mở rộng dư địa tài khóa phục vụ mục tiêu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và duy trì an ninh tài chính quốc gia bền vững.