Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TRẦN NỢ CÔNG Trần nợ công là một trong những vấn đề cần thiết phải nghiên cứu bởi trên thế giới luôn tồn tại các xu hướng quan điểm khác nhau: một là xu hướng quan điểm phòng ngừa xẩy ra sự mất an toàn an ninh tài chính khi vay nợ, nhất là khi bối cảnh thế giới đã và đang có nhiều cuộc khủng hoảng nợ, điển hình nhất là khủng hoảng nợ ở Mexico, các nước châu Âu, Argentina và Hy Lạp… và luồng quan điểm thứ hai là xu hướng kỳ vọng của các quốc gia hùng cường như: Mỹ, Nhật, Anh… đối với nhóm quốc gia này luôn biết tận dụng tính ưu việt từ những chiến lược, kế hoạch vay nợ để tăng dư địa đầu tư công nhằm thực hiện mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội. Trên thực tế, đã có một số nghiên cứu công bố liên quan về tính bền vững tác động ảnh hưởng của nợ công, trần nợ công lên tăng trưởng kinh tế và cũng có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra kết quả nhận định về trần nợ công, đưa ra khuyến cáo cho quốc gia áp dụng, trong đó, đối tượng được khuyến cáo áp dụng là một quốc gia riêng lẻ, có đối tượng áp dụng cho nhóm quốc gia có thu nhập thấp hoặc nhóm quốc gia thu nhập cao, hay là có cả đối tượng dành cho nhóm quốc gia chung thuộc nước đã phát triển và đang phát triển… Quan điểm của tác giả, việc tổng quan về vấn đề này cần trả lời được câu hỏi là: những nghiên cứu đề cập trực diện về trần nợ công cụ thể như thế nào? Các nghiên cứu đề cập tới ở mức độ nào? hệ thống hoá lý thuyết hay thực nghiệm? dưới góc độ bàn bạc hay chỉ dừng ở việc đề xuất phương pháp tính toán trần nợ công? Hoặc là đề xuất mức trần nợ công cụ thể cho quốc gia nào? Chiều hướng ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng tới nợ công, trần nợ công cụ thể như nào? Trần nợ công tồn tại cố định hay mềm dẻo? Trần nợ công tối ưu được đề xuất cho quốc gia cụ thể là bao nhiêu và các hàm ý chính sách áp dụng hướng tới thực hiện mục tiêu của quốc gia như nào.? Tác giả cho rằng trần nợ công có mối liên hệ lên tăng trưởng kinh tế có tính chất khía cạnh hay vùng ràng buộc nào đó và thái độ ứng xử của các quốc gia đối với việc quản lý nhà nước về kinh tế trong lĩnh vực điều tiết công cụ trần nợ công để cải thiện dư địa trong ngắn và dài hạn là rất khác nhau. Nền kinh tế luôn luôn vận động, 15 các quốc gia không mong muốn có sự bị động, thiếu chuẩn bị trước với các món nợ bất ngờ trong quá trình vận hành nền kinh tế. Vì vậy, trần nợ công sẽ là “trần mềm dẻo” khác nhau tuỳ vào các giai đoạn khác nhau, tuỳ vào mục tiêu khác nhau, các tác động khác nhau của các nhân tố ảnh hưởng, đặc điểm khác nhau của các quốc gia và sự chuyển động của nền kinh tế.
Do đó, trần nợ công sẽ có hơn 1 điểm và tác giả cũng cho rằng nền kinh tế tồn tại các ngưỡng nợ công khác nhau trong một quốc gia hoặc các quốc gia khác nhau sẽ nhiều hơn 1 ngưỡng nợ mà trong đó sẽ xác định được ngưỡng nợ công chịu đựng và các ngưỡng nợ công an toàn, tập hợp các ngưỡng nợ công an toàn tạo nên khoảng nợ công an toàn và ngưỡng nợ công tối ưu đương nhiên phải nằm trong khoảng nợ công an toàn đó, từ các ngưỡng nợ đó mang đến các đặc thù trạng thái kinh tế khác nhau (tăng trưởng mạnh, tăng trưởng ổn định, tăng trưởng thấp hoặc có thể suy thoái và tiến đến vỡ nợ). Với lập luận đó, tác giả tổng quan các nghiên cứu theo hướng sau: tổng quan các nghiên cứu về tính bền vững của nợ công và tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế; tổng quan nghiên cứu liên quan đến việc xác định trần nợ công, ngưỡng nợ công.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ CÔNG VÀ TÁC ĐỘNG TRẦN NỢ CÔNG LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Những nghiên cứu về tính bền vững và tác động trần nợ công lên tăng trưởng kinh tế đã được tổng hợp ở các nghiên cứu sau, trong đó IMF (2014) thực hiện đánh giá bền vững nợ công và đưa ra chỉ tiêu đánh giá nợ công cho các nước phát triển và đang phát triển; IMF báo cáo đánh giá về bền vững nợ công tại các nước có thu nhập thấp và IMF phân tích về tính bền vững nợ công cho Market-Access Countries [2]; Worldbank (2022, 2017) nghiên cứu về nợ công tại các nước có thu nhập thấp [1], [3]; Nghiên cứu của Bal & Rath (2014) thực hiện cho Ấn Độ [4]; Afonso & Jalles (2013) nghiên cứu cho 155 quốc gia trên thế giới [5]; Panizza & Presbitero (2014) thực hiện đánh giá cho các nước nằm trong OECD [6]; Nghiên cứu của Malkin & Pearce (2014) đánh giá cho Úc [7]; D’Erasmo & cộng sự (2016) nghiên cứu đánh giá về tính bền vững nợ công ở Mỹ [8]; Keiichiro Kobayashi (2015) đánh giá nợ công và tăng trưởng kinh tế tại Nhật Bản [9]; Moraga & Vidal (2010) nghiên cứu về tính bền vững nợ công và tăng trưởng kinh tế tại các nước châu Âu [10]; Reinhart và 16 Rogoff (2004) thực hiện đánh giá nợ công khi phát hành trái phiếu Chính phủ tới tăng trưởng kinh tế [11]; Brida. Gabrie & cộng sự (2017) thực hiện đánh giá tác động của nợ công tới tăng trưởng kinh tế ở 16 quốc gia [12]; Một số tác giả Việt Nam cũng đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế ở hàm bậc nhất như: Phạm Thế Anh (2013) đánh giá về thâm hụt tài khóa ở Việt Nam; Phạm Thế Anh nghiên cứu nợ công ở Việt Nam với rủi ro và thách thức [13]; Bùi Đại Dũng (2012) nghiên cứu về chi tiêu công và phát triển bền vững ở Việt Nam [14]; Hoàng Khắc Lịch & Dương Cẩm Tú (2018) thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế của 58 nước phát triển và nước đang phát triển [15], cụ thể là: Nghiên cứu Bal & Rath (2014) thực hiện xem xét ảnh hưởng của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ từ năm 1980 đến năm 2011 [4], sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ARDL), bài báo theo dõi mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Kết quả của mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) cho thấy: nợ chính phủ, tăng trưởng tổng sản lượng (TFP) và dịch vụ nợ đang ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và kết quả phù hợp với kỳ vọng trước của các tác giả.
Bal & Rath đề nghị Chính phủ nên theo mục tiêu của công bằng liên ngành về quản lý tài chính trong dài hạn để ổn định tỷ lệ nợ công/GDP, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong nghiên cứu của Bal & Rath, các tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy ARDL hàm bậc nhất để đánh giá ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn tại Ấn Độ và mô hình ARDL có hiệu chỉnh sử dụng tác động tuyến tính của nợ công lên tăng trưởng kinh tế Ấn Độ, tuy nhiên mô hình ARDL chưa xác định được trần nợ công và ngưỡng nợ công tối ưu của Ấn Độ. Các kết quả phù hợp với các tài liệu hiện có đã tìm thấy mối tương quan âm (-) giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên mối liên hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biến mất khi sửa chữa tính đồng nhất. Phát hiện của các tác giả chỉ ra không có bằng chứng rằng nợ công có ảnh hưởng nhân quả đến tăng trưởng kinh tế, trong thực tế có chỉ ra là mối tương quan nghịch 17 giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, các giả định này đôi khi được sử dụng để biện minh cho các chính sách cho rằng nợ công có tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế.
Nghiên cứu này đã chỉ ra tác động ngược chiều, tác động tiêu cực của nợ công tới tăng trưởng kinh tế thông qua hồi quy, điều này chỉ ra sự kìm hãm của nợ công mà chưa đưa ra các mức cảnh bảo cho các quốc gia với ngưỡng nợ công cụ thể, cũng giống như một số nghiên cứu ở trên, nghiên cứu của Panizza & Presbitero cũng không đưa ra trần nợ công giúp Chính phủ có dư địa, có kế hoạch điều tiết quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư, chi tiêu công một cách có hiệu quả các khoản vay nợ công. Elmendorf và Mankiw (1999) đã chỉ ra rằng nợ công có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn, nếu nợ công tăng để bù đắp cho ngân sách thâm hụt thì trong ngắn hạn chúng có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế và giúp tăng tổng cầu [50]. Tuy nhiên, trong dài hạn, do sự tác đông của hiệu ứng lấn át về vốn vì vậy nợ công cao có thể tiêu cực đến tăng trưởng kinh tến do có ảnh hưởng bất lợi đến tích luỹ vốn và tăng trưởng thông qua lãi suất dài hạn cao hơn, bóp méo hệ thống thuế trong tương lai, lạm phát và sự không chắc chắn cao hơn về các triển vọng và chính sách. Makin & Pearce (2014) thực hiện nghiên cứu về bền vững nợ công ở Úc, do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nợ công của các quốc gia và lãnh thổ của Úc đã tăng lên đáng kể vì thâm hụt tài chính khá lớn [7], nghiên cứu này xem xét sự ổn định của nợ nước ngoài, của chính phủ trước khi đánh giá nỗ lực tài chính cần thiết để tăng tỷ lệ nợ công/GDP lên mức trung bình 10 năm.
Để thực hiện điều này, trước hết nhóm tác giả thu thập được các công thức tính nợ công bền vững sau đó được áp dụng cho dữ liệu quốc gia có liên quan. Phân tích cho thấy rằng trong điều kiện kinh tế vĩ mô và các thiết lập tài chính trong năm 2012-2013, mức nợ không ổn định đối với tất cả các Chính phủ chung của Chính phủ và các tiểu bang. Hơn nữa, hầu như tất cả các chính quyền địa phương ở Úc cần phải giảm thâm hụt ngân sách chính hiện tại thành thặng dư đáng kể để khôi phục nợ công cho các cấp trung bình trong thập kỷ trước, đây không phải là triển vọng mà không có sự củng cố tài chính đáng kể hơn so với hiện đang được dự tính trong ngân sách tiểu bang và lãnh thổ.