Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Sán lá ký sinh ở đường tiêu hóa trâu, bò Các loài sán lá đường tiêu hóa không chỉ gây bệnh cho vật nuôi mà một số loài sán lá còn gây bệnh cho con người. Sán lá gây bệnh thuộc lớp Trematoda, ngành Plathelminthes.
Hiện nay, trong lớp Trematoda, các loài sán lá chính có tầm quan trọng về y tế và thú y chủ yếu là: Schistosoma mansoni (Sambon, 1907), Clonorchis sinensis (Looss, 1907), Opisthorchis viverini (Poirier, 1886), Paragonimus mexicanus (Miyazaki và Ishii, 1968), P. Các loài ký sinh trùng này gây tác hại đối với hàng triệu người và vật nuôi trên toàn thế giới (Bassani và cs., 2007; Hotez và cs., 2008; Marcos và cs., 2008; Mas - Coma và cs., 2009; Schwertz và cs. Theo Nguyễn Thị Lê và cs. (1996): ở Việt Nam có 11 loài sán lá ký sinh ở gia súc nhai lại là: Fasciola hepatica, Fasciola gigantica, Eurytrema pancreaticum, Paramphistomum cervi, Calicophoron cauliorchis, Calicophoron calicophorum, Ceylonocotyle scoliocoelium, Homalogaster paloniae, Gatrothylax crumenifer, Carmyerus crumennifer và Fischoederius cobboldi.
Nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho biết: các loài sán lá ký sinh ở đường tiêu hóa gia súc nhai lại đều mang các đặc điểm của lớp sán lá Trematoda. Sán trưởng thành thường có thân dẹt, phẳng giống như chiếc lá, có hai giác bám: giác miệng nằm ở phần trước của cơ thể, bao xung quanh lỗ miệng; giác bụng (acetabulum) nằm trên bề mặt phần thân trước của sán lá. Tuy nhiên, mỗi loài sán lá đều có những đặc điểm hình thái đặc trưng riêng cho từng loài. Căn cứ vào những đặc điểm hình thái và vị trí ký sinh của chúng có thể phân biệt sơ bộ các loài với nhau.
Sau đây là một số loài sán lá ký sinh phổ biến ở đường tiêu hóa trâu, bò. Sán lá gan Fasciola spp. Có hai loài sán lá gan gây bệnh cho gia súc nhai lại là Fasciola gigantica và F. Sán trưởng thành ký sinh ở gan và ống dẫn mật của vật chủ.
Trong đó, Fasciola gigantica là loài sán lá gan phổ biến ở châu Phi và châu Á. gigantica dài hơn loài F. hepatica (chiều dài 25 - 75 mm, rộng 5 - 12 mm), không có “vai”. Có hai giác bám: giác miệng và giác bụng.
Giác miệng ở đầu sán thông với hầu, thực quản, ruột gồm hai manh tràng phân thành nhiều nhánh nhỏ. Giác bụng tròn, lớn hơn giác miệng và ở gần giác miệng. Trứng của loài F. gigantica dài hơn một chút so với trứng của loài F.
hepatica phân bố chủ yếu ở châu Âu và châu Mỹ. Đầu sán lồi và nhô ra phía trước làm cho sán có “vai”. Sán dài 20 - 30 mm, rộng 8 - 13 mm, phần đầu hình nón dài 3 - 4 mm, chứa cả hai giác bám, giác bụng lớn hơn giác miệng. Cấu tạo cơ thể loài F.
hepatica và trứng của nó có hình dạng, màu sắc tương tự như loài F. Sán lá gan và trứng sán lá gan Fasciola spp. Ghi chú: A - sán lá gan Fasciola hepatica; B - sán lá gan Fasciola gigantica; C - trứng của sán lá gan F. hepatica; D - trứng của sán lá gan F.
(Nguồn: Mas - Coma và cs. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Mas - Coma và cs. (2014) cho biết: sán lá Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của gia súc nhai lại. Sau khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng.
Những trứng này theo dịch mật vào ruột và 6 theo phân ra ngoài. Nếu gặp điều kiện thích hợp thì sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước. Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp - ốc nước ngọt, Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và qua các giai đoạn: Sporocyst, Redia, Cercaria. Từ khi Miracidium xâm nhập vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng 50 - 80 ngày.
Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường ngoài, bơi tự do trong nước. Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh. Lúc này Cercaria đã biến thành Adolescaria (ấu trùng sán lá Fasciola có sức gây bệnh). Adolescaria lơ lửng trong nước hoặc bám vào cây cỏ thủy sinh.
Vòng đời của sán lá Fasciola spp. Trâu, bò, các loài nhai lại khác và người nuốt phải Adolescaria, vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng, di chuyển đến ống dẫn mật, ký sinh ở đó, hút máu vật chủ và phát triển thành sán lá trưởng thành. Sán lá gan cần từ 3 đến 4 tháng để hoàn thành vòng đời trong cơ thể vật chủ cuối cùng. Sán lá gan nhỏ Dicrocoelium spp.
Sán lá gan nhỏ Dicrocoelium spp. gây bệnh cho các loài động vật có vú, trong đó có trâu, bò, dê, cừu, lạc đà…Bệnh thấy ở hầu hết các khu vực trên thế giới như châu Âu, châu Á, Bắc Phi và Bắc Mỹ (Mitchell và cs., 2017; Khan và cs., 2023; Rehbein và cs. Trong giống Dicrocoelium, loài Dicrocoelium dendriticum là loài phổ biến. Sán lá trưởng thành dài 5 - 12 mm, rộng 1,5 - 2,5 mm, cơ thể màu nâu đỏ, hình dẹt, thon dài, có hình mũi mác, phình to ở giữa và thu hẹp ở hai đầu.
Cơ 7 thể mỏng, có màu đục, có thể nhìn thấy các bào quan bên trong cơ thể sán lá. Giác bụng có đường kính 0,5 - 0,6 mm, lớn hơn một chút so với giác miệng. Sán lá gan nhỏ ký sinh trong ống dẫn mật và túi mật, sau khi thụ tinh chúng đẻ trứng. Trứng dài 0,036 - 0,045 mm, rộng 0,022 - 0,030 mm, có nắp, vỏ dày, màu nâu tối và chứa phôi bên trong (Kumar, 1999).
Sán lá gan Dicrocoelium dendriticum và trứng sán (Nguồn: Anne và cs. Theo Kumar (1999), Otranto và Traversa (2002), Manga - González và Ferreras (2019): Trứng sán lá gan nhỏ được thải ra ngoài qua phân của gia súc. Trứng có khả năng tồn tại dưới các điều kiện thời tiết khác nhau, đặc biệt trứng có thể sống khi thời tiết lạnh giá trong thời gian dài. Trứng sán lá gan nhỏ chỉ nở khi đã được ốc cạn nuốt vào.
Trứng nở trong ruột ốc và Miracidium tự do sẽ di chuyển đến khoảng không gian giữa gan và tụy của ốc, trong thời kỳ tiếp theo, chúng phát triển thành Sporocyst mẹ trong vòng 2 tháng. Sau đó, Sporocyst mẹ sinh ra 25 đến 100 Sporocyst con. Trong cơ thể của Sporocyst hình thành 10 - 40 Cercaria. Thời gian Cercaria hình thành và phát triển trong cơ thể ốc có thể lên tới 5 tháng.
Cercaria được thải ra khỏi ốc thành từng đám phủ chất nhầy, sau đó Cercaria được các loài kiến Formica fusca, F. rufibarbis nuốt vào và phát triển thành Metacercaria trong vòng 1 - 2 tháng. Một hoặc hai Cercaria có thể khu trú ở hạch dưới thực quản của kiến và gây nên hiện tượng tê liệt thần kinh khi nhiệt độ dưới 15°C, vì thế mà làm cho kiến nằm ở trạng thái bất động trên cỏ, gia súc nhai lại ăn phải kiến khi chăn thả. Trong cơ thể gia súc, Metacercaria thoát kén từ kiến nhờ hoạt động của enzyme tá tràng của gia súc, sau đó di hành đến ống dẫn mật và túi mật, phát triển thành sán trưởng thành sau 45 - 56 ngày.
Vòng đời của sán lá gan Dicrocoelium dendriticum (Nguồn: Otranto và Traversa, 2003). Sán lá dạ cỏ Paramphistomum spp. Sán lá dạ cỏ Paramphistomum spp. gây bệnh cho các loài gia súc nhai lại trên toàn thế giới nhưng chủ yếu gây bệnh nặng ở các vùng nhiệt và cận nhiệt đới như châu Đại Dương, châu Á, châu Phi và Đông Âu.
Sán lá ký sinh ở dạ cỏ và dạ tổ ong của gia súc nhai lại, có kích thước nhỏ, hình khối chóp, dài 3 - 20 mm, rộng 1,5 - 7 mm. Thân sán hình nón, rất dày, thóp phía trước, mở rộng và tù phía sau. Sán có màu hồng nhạt hoặc đỏ, phần sau đậm màu hơn. Trên thân có hai giác bám.
Giác miệng nằm ở phần đầu, giác bụng lớn hơn giác miệng và nằm ở phần cuối cơ thể. Hệ tiêu hóa của sán lá gồm miệng, hầu, thực quản và hai manh tràng. Trứng sán Paramphistomum spp. màu tro nhạt, hình trứng, đầu nhỏ có nắp, chiều dài 0,116 - 0,189 mm, rộng 0,052 - 0,065 mm (Kumar, 1999; Kathryn và cs.
Sán lá dạ cỏ và trứng sán lá dạ cỏ Paramphistomum spp. (Nguồn: Tookhy và cs. Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Kathryn và cs. (2017): sán lá dạ cỏ cần hai vật chủ là ốc nước ngọt và gia súc nhai lại để hoàn thành vòng đời.
Sán trưởng thành đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, rơi vào môi trường nước. Ấu trùng Miracidium nở ra từ trứng và xâm nhập ốc nước ngọt - vật chủ trung gian, phát triển thành Sporocyst, Redia và Cercaria trong cơ thể ốc. Cercaria thoát khỏi ốc, bám vào cây cỏ thuỷ sinh, rụng đuôi và thành nang ấu (Adolescaria). Nang ấu có thể sống ở ngoài môi trường trong 6 tháng.
Khi động vật nhai lại ăn phải cây cỏ có nang ấu, ấu trùng thoát khỏi nang ở ruột non, di chuyển đến dạ cỏ phát triển thành sán trưởng thành. Sán lá dạ cỏ cần từ 4 đến 7 tháng để hoàn thành vòng đời trong cơ thể vật chủ cuối cùng (Tandon và cs. Vòng đời của sán lá dạ cỏ Paramphistomum spp. (Nguồn: Kathryn và cs.
Sán lá tuyến tụy Eurytrema spp. Sán lá tuyến tụy Eurytrema phân bố rộng rãi trên toàn thế giới. Sán ký sinh ở tuyến tụy, ống dẫn tụy và đôi khi thấy chúng trong ống dẫn mật của gia súc nhai lại (Mattos Junior và Vianna, 1987). Nhiều tác giả cho biết, sán lá tuyến tụy ký sinh ở trâu, bò, dê tại Nhật Bản, Đài Loan, Đông Nam Á, Ấn Độ và Nam Mỹ (Nieberle và Cohrs, 1970; Yeh và cs., 2019; De Sousa và cs.
Các loài sán lá tuyến tụy thuộc giống Eurytrema có cơ thể hình lá, lưng bụng phẳng và dẹt. Sán dài 3 - 13 mm, rộng 2 - 7 mm, có giác miệng và giác bụng. Cuối thân của sán lá tuyến tụy hình chóp nón và không có phần phụ (Wiroreno và cs., 1987; Yamamura và cs., 1995; Mohanta và cs., 2015; Leite và cs. Giác miệng nằm ở phần đầu của sán, giác bụng nằm ở khoảng giữa thân, ở vị trí một nửa đến một phần ba phần trước của cơ thể sán.
Hầu nhỏ, thực quản ngắn. Buồng trứng tròn hoặc chia thùy (3 - 10 thùy), nằm ở giữa bên trái hoặc bên phải của đường giữa và sau tinh hoàn. Tuyến noãn hoàng dài, sắp xếp như chùm nho và nằm ở hai bên rìa của sán lá, kéo dài ra phía sau tinh hoàn, kết thúc ở phần cuối của manh tràng. Trứng sán lá Eurytrema spp.
màu nâu sẫm, vỏ dày, có nắp, bên trong có ấu trùng, dài 0,041 - 0,053 mm, rộng 0,023 - 0,034 mm (Ilha và cs., 2005; Bassani và cs., 2006; Mohanta và cs.