Chương 1 : Giới thiệu. Chương 2 : Cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố tác động đến nợ xấu. Chương 3 : Thực trạng tỷ lệ nợ xấu và các yếu tố tác động đến nợ xấu tại 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2018. Chương 4 : Mô hình, phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
Chương 5 : Kết luận và một số hạn chế. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU 2. Khái niệm nợ xấu Theo thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 02/2013/TT-HĐNN ngày 21/01/2013 định nghĩa rằng : « Nợ xấu là những khoản nợ thuộc nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). » Trong đó : • Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm : Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;… • Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm : Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;… • Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm : Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Nợ gia hạn nợ lần đầu; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;… • Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;… • Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;… 5 2.
Chỉ tiêu đo lường nợ xấu Theo thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 02/2013/TT-HĐNN ngày 21/01/2013 thì : « Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 ”. Nếu tỷ lệ này dưới 3% thì được xem như là an toàn. NPL = Nợ xấu / Tổng dư nợ. Trong đó : NPL : tỷ lệ nợ xấu.
Nợ xấu : Nợ nhóm 3,4,5. Tổng dư nợ : Nợ nhóm 1,2,3,4,5. Nguyên nhân gây ra nợ xấu. Để khắc phục về tình trạng nợ xấu thì trước tiên cần phải tìm hiểu các nguyên nhân gây ra nợ xấu.
Trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu cho thấy nợ xấu xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Sau đây là một số nguyên nhân chủ yếu : 2. Nguyên nhân từ ngân hàng. Chất lượng quản lý : Theo nghiên cứu của Berger & DeYoung (1997) thì tác giả cho rằng chất lượng quản lý là yếu tố quan trọng tác động đến nợ xấu của ngân hàng.
Do nợ xấu và hiểu quả chi phí có mối quan hệ ngược chiều nhau, các ngân hàng bị phá sản thường có tỷ lệ nợ xấu cao đồng thời cũng có hiệu quả chi phí thấp. Nguyên nhân là do các ngân hàng quản lý kém trong việc giám sát chi phí, khách hàng đi vay, thiếu kĩ năng trong việc thẩm định tài sản đảm bảo… Ngoài ra, các ngân hàng chưa chú trọng đến việc quản trị danh mục cho vay, dẫn đến chấp nhận các khoản vay có rủi ro cao nhiều làm tăng xác suất vỡ nợ dẫn đến nợ xấu cao hơn. Rủi ro đao đức : Theo nghiên cứu của Keeton & Morris (1987) cho rằng mức vốn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ nợ xấu. Những ngân hàng có vốn thấp thường mạo hiểm hơn nên sẽ đầu tư nhiều vào tài sản rủi ro do nếu rủi ro xảy ra thì chủ nợ là người gánh chịu nhiều tổn thất nhất.
Vì đầu tư nhiều vào tài sản rủi ro nên khiến nợ xấu gia tăng. Nghiên cứu của Berger & DeYoung (1997) cũng cùng chung quan điểm. 6 Tăng trưởng tín dụng : theo nghiên cứu của Keeton (1999) mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và nợ xấu được giải thích thông qua sự dịch chuyển các nhân tố trong mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và nợ xấu. Mối quan hệ này vừa là cùng chiều lẫn ngược chiều.
Thứ nhất, sự dịch chuyển đường cung trên thị trường vốn vay hàm ý rằng các NHTM sẵn sàng cho vay nhiều hơn bằng cách giảm các yêu cầu về tiêu chuẩn tín dụng, có thể là cho vay với lãi xuất thấp, cho vay dưới chuẩn làm cho các khoản nợ xấu có nguy cơ tăng trong tương lai. Thứ hai, do nhu cầu thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp hay dự án đầu tư, đường cầu tín dụng sẽ dịch chuyển sang phải. Sự thay đổi cấu trúc vốn này sẽ giúp cải thiện dòng tiền nên khả năng trả nợ của người vay vốn bị ảnh hưởng tiêu cực, đảm bảo cho chất lượng tín dụng trong tương lai. Thứ ba, sự dịch chuyển của đường cầu tín dụng do dịch chuyển trong năng suất lao động, sự gia tăng trong năng suất lao động là dấu hiệu tốt cho khả năng trả nợ của người vay vốn.
Đa dạng hóa danh mục cho vay : Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015) thì cơ hội đa dạng hóa danh mục cho vay của các ngân hàng có mối liên hệ với chất lượng tín dụng. Đa dạng hóa danh mục cho vay và tỉ lệ nợ xấu được kì vọng có quan hệ ngược chiều vì đa dạng hóa làm giảm rủi ro tín dụng. Khả năng bù đắp rủi ro : Nếu không có khả năng bù đắp rủi ro thì sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn khi phát sinh các vấn đề từ những tổn thất hay các rủi ro bất ngờ có thể xảy ra như rủi ro tin dụng và nợ xấu. Ngoài ra, còn gây mất lòng tin đối với nhà đầu tư và khách hàng.
Tuy nhiên, nếu khả năng bù đắp rủi ro quá cao thì sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng. Nguyên nhân từ tự nhiên. Khi có những biến động lớn về thời tiết, khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… đều gây ảnh hưởng đến chăn nuôi, năng suất cây trồng và các ngành công nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh làm giảm khả năng trả nợ của người đi vay, làm tăng tỷ lệ nợ xấu… theo nghiên cứu của Keeton & Morris (1987) và Goldstein, M.Nguyên nhân từ khách hàng đi vay. Do khách hàng sử dụng vốn vay không hiệu quả, thiếu trình độ quản lý, thiếu năng lực điều hành cũng như khả năng tự chủ tài chính làm hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng, làm gia tăng tỷ lệ nợ xấu.
Ngoài ra, còn do khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ. Theo nghiên cứu Gou Ning-ing (2012) thì nguyên nhân dẫn tới nợ xấu tại các ngân hàng là do trình độ quản trị doanh nghiệp chiếm 30%, do trình độ quản trị ngân hàng chiếm 30% và cuối cùng chiếm 40% là do yếu tố bên ngoài.Nguyên nhân từ chính trị, xã hội, kinh tế. Sự thay đổi trong chủ trương, chính sách điều hành của chính phủ, sự biến động thị trường trong và ngoài nước hay cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế… cũng đều tác động đến hoạt động của doanh nghiệp cũng như ngân hàng. Theo nghiên cứu của Bloem, M & Gorter, N.
(2001), ngân hàng với tư cách là trung gian tài chính nên rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi môi trường kinh tế, chính trị, xã hội. Khi những yếu tố này ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì sẽ gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của người đi vay làm tăng nguy cơ nợ xấu. Lý thuyết cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ. Theo Miskin (2010) cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ là quá trình thay đổi trong cung tiền của cơ quan điều hành chính sách tiền tệ làm ảnh hưởng đến mức giá, sản lượng của nền kinh tế.
Cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ làm thay đổi các yếu tố kinh tế vĩ mô ( như lãi suất, lạm phát, thất nghiệp,…) ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của người đi vay, dẫn đến gia tăng nợ xấu. Tác động của nợ xấu Nợ xấu tác động đến khả năng huy động vốn của ngân hàng và tốc độ tăng trưởng tín dụng. Theo nghiên cứu của Diwan & Rodrik (1992), nếu tỷ lệ nợ xấu cao sẽ làm tăng sự không chắc chắn về trạng thái vốn của ngân hàng, do đó khả năng huy động vốn bị giớn hạn. Điều này làm tăng lãi suất cho vay của các ngân hàng dẫn đến việc giảm tăng trưởng tín dụng.
8 Nợ xấu tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Theo nghiên cứu Berger & DeYoung (1997) cho rằng các khoản nợ khi quá hạn, ngân hàng sẽ bắt đầu tăng chi phí để xử lý nợ xấu. Do đó khi nợ xấu tăng sẽ dẫn đến hiệu quả chi phí của ngân hàng suy giảm. Ngoài ra khi nợ xấu tăng thể hiện khả năng quản lý rủi ro tín dụng kém, ngân hàng hoạt động không hiệu quả.
Khung lý thuyết Trình bày các nguyên nhân dẫn đến nợ xấu và các tác động của nợ xấu dựa trên các nghiên cứu trước đây. Những yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về đề tài những yếu tố vi mô và vĩ mô tác động đến nợ xấu của ngân hàng.