Mở đầu. Chương này giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về sự gắn bó của nhân viên.
Điểm qua các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, các công cụ nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này giới thiệu về đối tượng nghiên cứu, phân tích kết quả thống kê mô tả, kết quả hồi quy và đưa ra các thảo luận về kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu đã đạt được.
Một số các hàm ý quản trị cho chi nhánh ngân hàng nhằm nâng cao sự gắn bó của người lao động và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trước hết sẽ giới thiệu một số khái niệm về sự gắn bó của nhân viên với tỏ chức, tóm lược những lý thuyết tiêu biểu liên quan đến sự gắn bó của nhân viên. Chương này cũng sẽ đề cập đến những nghiên cứu trong và ngoài nước đã được tiến hành có liên quan đến sự gắn bó của nhân viên với tổ chức. Từ đó tổng hợp các lý thuyết và các công trình nghiên cứu để đưa ra mô hình nghiên cứu phù hợp cho đề tài.1 Tổng quan lý thuyết 2.1 Khái niệm sự gắn bó của nhân viên với tổ chức Có rất nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu về quan điểm sự gắn bó của nhân viên đối với tổ chức.
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn không ngừng thực hiện các cuộc nghiên cứu, khảo sát trong lĩnh vực nhân sự để tìm hiểu thêm về vấn đề này. Nhìn chung có hai xu hướng trong tiếp cận và đưa ra các khái niệm. Luận văn thạc sĩ QTKD Đầu tiên phải là xu hướng tiếp cận tập trung vào gắn kết hành vi của cá nhân. Cá nhân mong muốn sẽ nhận được phần thưởng từ tổ chức hay ngược lại là thực hiện nghĩa vụ của mình đối với tổ chức đó theo cách “một người tự trói buộc mình bằng chính hành động của anh ta” (Mowday và cs.
Cách tiếp cận thứ hai là gắn kết thái độ. Porter và cs. (1974) đã thảo luận ba thành phần chính của gắn bó tổ chức là “niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận các mục tiêu của tổ chức, sẵn sàng nỗ lực hết mình vì tổ chức và mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức”. Sau này Mowday và cộng sự đã nhận định rằng, sự gắn kết của nhân viên với tổ chức được biểu hiện qua 3 thành tố: (i) Tin tưởng tuyệt đối vào tổ chức, chấp nhận các mục tiêu và giá trị của tổ chức, (ii) Sẵn sàng nỗ lực làm việc vì tổ chức, và (iii) Mong muốn một cách mạnh mẽ là thành viên của tổ chức (Mowday và cs.
Sự gắn bó của nhân viên đối với tổ chức là mối liên hệ về mặt tâm lý giữa một cá nhân với tổ chức của mình khiến họ ít có khả năng tự nguyện rời bỏ tổ chức” (Mayer và Allen, 1996), hay khái niệm “Duy trì” của viện Aon Consulting: nhân viên có ý định ở lại lâu dài cùng tổ chức, sẽ ở 5 lại tổ chức mặc dù có nơi khác có lời đề nghị lương bổng tương đối hấp dẫn hơn (Stum, 2001). Các học giả cho rằng sự gắn kết của nhân viên với tổ chức không chỉ thể hiện bằng niềm tin hay ý thức quan điểm của mỗi cá nhân mà nó còn là hành động của cá nhân đó đối với tổ chức (Mowday, Steers và Porter, 1979).2 Các thành phần của sự gắn bó với tổ chức Với các định nghĩa khác nhau về sự gắn bó với tổ chức thì cũng đưa ra các thành phần khác nhau về sự gắn bó. Mowday và cs. (1979) quan niệm rằng gắn kết có 3 thành phần là (i) Sự đồng nhất: có niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu, giá trị của tổ chức; (ii) Sự nỗ lực: sẵn sàng phấn đấu cho một nỗ lực quan trọng vì tổ chức; và (iii) sự trung thành: ý định hoặc mong muốn mạnh mẽ sẽ ở lại là thành viên trong tổ chức.
Mayer và Schoorman (1992) đề xuất hai thành phần của sự gắn bó là: (i) Giá trị: niềm tin và chấp nhận các mục tiêu và giá trị của tổ chức và sẵn sàng nỗ lực cho tổ chức; (ii) Sự duy trì: mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức. Theo Trần Kim Dung và Abraham Morris (2005), trong điều kiện ở Việt Luận văn thạc sĩ QTKD Nam, sự gắn bó với tổ chức thể hiện ở ba thành phần sau: Nỗ lực: nỗ lực để hoàn thành trách nhiệm; Tự hào: tự hào vì là thành viên của tổ chức; Trung thành: mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức.3 Vai trò của sự gắn bó của nhân viên với tổ chức Trong xã hội phát triển, các cơ quan, tổ chức đều nhận thức được rằng sử dụng người tài mới có thể tăng cường hiệu quả và thế mạnh cạnh tranh của tổ chức, nói cách khác, người tài là phương tiện để tăng cường lợi thế cạnh tranh. Theo nghiên cứu của Stone (2002), mất đi những nhân viên tài năng làm việc với hiệu quả cao đồng nghĩa với việc tổ chức phải bỏ ra nhiều chi phí hơn để thay thế người làm, chưa kể tiền lương. Somaya và Williamson (2008) cũng dẫn ra số liệu tương tự cho thấy chi phí tuyển dụng thay thế có thể lên đến 100-150% so với chi phí lương cho nhân viên làm việc hiệu suất cao với các kỹ năng chuyên biệt.
Các tổ chức cũng phải chịu tổn thất từ việc tuyển người thay thế, bởi vì mỗi nhân viên khi chuyển đi mang theo các giá trị thuộc về nguồn vốn con người, các kiến thức, kỹ năng và cả các bí quyết của tổ chức. Như vậy, cần lưu ý rằng: mất đi những 6 nhân viên tài năng gây tổn thất nhiều hơn so với những thiệt hại tính được bằng tiền, làm sa sút trí lực của tổ chức, giảm đi khả năng hoạt động và làm tổn thương ý chí chiến thắng. Theo nghiên cứu của Bhatnagar (2007), những nhân viên gắn bó với tổ chức có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức của mình. Purcell (2003) mô tả, thái độ làm việc tự nguyện là lựa chọn thường có của nhân viên ở cách họ thực hiện công việc, mức độ cố gắng, chú tâm, sáng tạo và sự hiệu quả trong công việc của họ.
Thái độ đó có thể là tích cực, thường xuất hiện khi nhân viên hài lòng và gắn kết với công việc của họ, nhân viên sẵn sàng bỏ thêm công sức, làm vượt yêu cầu đề ra để đạt được thành quả cao. Thái độ đó cũng có thể là tiêu cực nếu nhân viên chủ động tìm cách để trốn tránh, trì hoãn công việc. Đối với bất kỳ một tổ chức nào thì cả hai nhân tố, những nhân viên tài năng và sự gắn bó của họ với tổ chức đều giữ vai trò quan trọng. Khi đã gắn bó nhân viên sẽ nỗ lực hết mình để hoàn thành công việc được giao một cách tốt nhất, họ luôn nhiệt tình, đi đầu trong mọi công việc.
Luận văn thạc sĩ QTKD 2.4 Quan hê giữa sự hài lòng và sự gắn bó công việc của nhân viên Sự hài lòng có thể chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau: Lương, thu nhập, thăng tiến, điều kiện làm việc… Sừ hài lòng công việc có thể là nhân tố duy nhất hoặc cùng các nhân tố khác ảnh hưởng đến sự gắn bó của nhân viên với tổ chức. Sự hài lòng công việc biểu thị cảm xúc tích cực đối với công việc cụ thể, còn sự gắn bó với tổ chức là mức độ mà nhân viên cảm thấy trung thành với một tổ chức cụ thể. Nghiên cứu của Shu-Feng Xiao và Fabian Jintae Froese (2008) và đã chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa các yếu tố cá nhân của sự hài lòng công việc, chẳng hạn như quyền tự chủ, thực hiện thẩm định, đảm bảo công việc và sự hài lòng trả lương với gắn bó với tổ chức (Ngô Thị Thúy Hoa, 2013).5 Các lý thuyết liên quan đến sự gắn bó của nhân viên 2.1 Thuyết hai nhân tố Frederick Herzberg (1959) Năm 1959, F. Herzberg và các đồng nghiệp của mình, sau khi thực hiện các cuộc phỏng vấn với hơn 200 người kỹ sư và kế toán của ngành công nghiệp 7 khác nhau và đã rút ra nhiều kết luận rất bổ ích.
Ông đặt các câu hỏi về các loại nhân tố đã ảnh hưởng đến người lao động như: khi nào thì có tác dụng động viên họ làm việc và khi nào thì có tác dụng ngược lại. Bằng kinh nghiệm chuyên môn, ông chia các nhu cầu của con người theo 2 loại độc lập và có ảnh hưởng tới hành vi con người theo những cách khác nhau: khi con người cảnh thấy không thoả mãn với công việc của mình thì họ rất lo lắng về môi trường họ đang làm việc, còn khi họ cảm thấy hài lòng về công việc thì họ sẽ quan tâm đến chính công việc. Ông đã phân thành 2 nhóm nhân tố: duy trì và động viên. Nội dung của các nhân tố đó được mô tả theo bảng sau: Bảng 2.1: Thuyết hai nhân tố Frederick Herzberg CÁC NHÂN TỐ DUY TRÌ CÁC NHÂN TỐ THÚC ĐẨY Luận văn thạc sĩ QTKD (Phạm vi công việc) (Nội dung công việc) Lương và các khoản phúc lợi phụ Công việc có ý nghĩa Sự giám sát Cảm nhận về sự hoàn thành Điều kiện làm việc Có cơ hội thăng tiến Các chính sách quản trị Sự công nhận khi hoàn thành công việc (Nguồn: Lê Hương Thục Anh, 2014) Học thuyết này giúp cho các nhà quản trị biết được các yếu tố gây ra sự bất mãn cho nhân viên và từ đó tìm cách loại bỏ những nhân tố này.
Ví dụ, nhân viên có thể bất mãn với công việc vì mức lương của họ quá thấp, cấp trên giám sát quá nghiêm khắc, quan hệ với đồng nghiệp không tốt. Như vậy, nhà quản trị phải tìm cách cải thiện mức lương, giảm bớt giám sát và xây dựng tình đồng nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên khi các nhân tố gây bất mãn được loại bỏ thì cũng không có nghĩa là nhân viên sẽ hài lòng.