chương 1 tác giả đã đưa ra được những lý do cần thiết để thực hiện đề tài này cũng như xác định được mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Ngoài ra, tác giả cũng đã trình bày đóng góp của đề tài và bố cục của luận văn. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUYẾT ĐỊNH VAY VỐN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 2. Tổng quan về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân.
Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân. Khái niệm cho vay: Theo quy định tại Khoản 16, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng (2010), cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khách hàng cá nhân là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm theo quy định trước pháp luật. Cho vay khách hàng cá nhân thường được sử dụng với mục đích cho vay mua bất động sản, cho vay mua xe, cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng,… 2.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân. - Đối tượng cho vay: là các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn. - Thời hạn cho vay: tùy thuộc vào từng mục đích vay vốn mà ngân hàng sẽ đưa ra các hình thức vay như ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. - Chi phí cho vay: sản phẩm, dịch vụ, thẩm định là các khoản chi phí mà ngân hàng sẽ phải bỏ ra khi cho khách hàng cá nhân vay vốn.
Cho vay KHCN là danh mục có chi phí cao nhất của ngân hàng, do quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay rất lớn nên việc xử lý các bước trong quy trình tín dụng nhiều và liên tục dẫn đến phát sinh các chi phí cho ngân hàng. - Quy mô khoản vay: các khoản cho vay KHCN thường có quy mô khoản vay nhỏ, số lượng khoản vay nhiều. Tuy nhiên lợi nhuận của hoạt động cho vay KHCN đem lại khá cao do lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn so với lãi suất cho vay KHDN. 6 - Rủi ro của các khoản vay: thông thường các khoản cho vay KHCN là những khoản cho vay có độ rủi ro cao, bên cạnh đó nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân thường cũng rất cao giúp ngân hàng phân tán rủi ro.
- Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, nhu cầu vay tăng lên khi nền kinh tế hưng thịnh và giảm đi khi nền kinh tế suy thoái. - Lãi suất vay đối với khách hàng cá nhân: do chi phí ngân hàng bỏ ra đối với các khoản cho vay KHCN thường cao, chính vì thế kéo theo việc lãi suất cũng tăng theo. Các hình thức cho vay của khách hàng cá nhân. Để đáp ứng nhu cầu khách hàng cũng như sự cạnh tranh giữa các ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại hiện nay đã mở rộng đa dạng các hình thức cho vay. - Cho vay sản xuất kinh doanh: những khoản tín dụng này sẽ giúp các cá nhân, hộ gia đình có thêm nguồn vốn để đầu tư mua sắm thiết bị hoặc đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho việc kinh doanh. - Cho vay tiêu dùng: hình thức cho vay này giúp khách hàng cá nhân có thể đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của mình như mua nhà, mua xe, thanh toán học phí… - Cho vay thấu chi: hình thức này cho phép khách hàng có thể chi tiêu vượt quá hạn mức cho phép tiền gửi thanh toán của mình. - Cho vay từng lần: hình thức này khá phổ biến tại các ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên cũng như không đủ điều kiện để cấp hạn mức thấu chi.
- Cho vay hạn mức: là hình thức các ngân hàng sẽ thỏa thuận hạn mức tín dụng với khách hàng. - Cho vay trả góp: hình thức vay này cho phép khách hàng có thể trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. - Cho vay gián tiếp: là hình thức vay thông qua tổ chức trung gian như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh,. Cơ sở lý thuyết về quyết định sử dụng/ quyết định mua.
Thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action –TRA). Thuyết hành vi hợp lí phát triển lần đầu tiên bởi Fishbein vào năm 1967, sau đó được hiệu chỉnh mở rộng thành mô hình TRA bởi Fishbein và Aijen vào năm 1975. Lý thuyết này đã trở thành học thuyết chủ đạo cho những nghiên cứu về tâm lý xã hội sau đó, được sử dụng để dự đoán hành vi của con người trong các lĩnh vực khác nhau. Thuyết hành vi hợp lý (TRA) đã chỉ ra được mối quan hệ giữa thái độ và chuẩn chủ quan với ý định hành vi có ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện hành vi của con người.
Mô hình các thành phần cơ bản của Thuyết hành vi hợp lý TRA. Mục đích chính của TRA là tìm hiểu hành vi tự nguyện của một cá nhân bằng cách kiểm tra động lực cơ bản tiềm ẩn của cá nhân đó để thực hiện một hành động. TRA cho rằng ý định thực hiện hành vi của một người là yếu tố dự đoán chính về việc họ có thực sự thực hiện hành vi đó hay không. Ngoài ra, các quy tắc xã hội cũng góp phần vào việc người đó có thực sự thực hiện hành vi hay không.
Theo lý thuyết, ý định thực hiện một hành vi nhất định có trước hành vi thực tế. Ý định này được gọi là ý định hành vi và là kết quả của niềm tin rằng việc thực hiện hành vi đó sẽ dẫn đến một kết quả cụ thể. Ý định hành vi rất quan trọng đối với lý thuyết TRA bởi vì những ý định này "được xác 8 định bởi thái độ đối với các hành vi và chuẩn chủ quan". Thuyết hành vi hợp lý cho thấy rằng ý định càng mạnh mẽ càng làm tăng động lực thực hiện hành vi, điều này dẫn đến làm tăng khả năng hành vi được thực hiện.
Mặc dù phạm vi áp dụng của thuyết TRA khá rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng thuyết này vẫn có những hạn chế cần được điều chỉnh và được sửa đổi liên tục. Đặc biệt, theo Ajzen việc thực hiện hành vi theo ý định là không chắc chắn. Hạn chế lớn nhất của thuyết này xuất phát từ việc giả định rằng hành vi là dưới sự kiểm soát của ý chí. Trên thực tế, việc thực hiện một hành vi không phải lúc nào cũng do một ý định đã có từ trước, hơn nữa, thái độ và hành vi không phải lúc nào cũng được liên kết bởi các ý định, đặc biệt khi hành vi không đòi hỏi nhiều nỗ lực về nhận thức.
Do đó, thuyết này chỉ áp dụng đối với hành vi có ý định từ trước. Các hành vi theo thói quen hoặc hành vi không ý thức, … không thể được giải thích bởi thuyết này. Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour – TPB). Thuyết hành vi dự định được phát triển từ lý thuyết hành vi hợp lý, lý thuyết này được tạo ra để khắc phục sự hạn chế của lý thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí.
Theo Ajzen (1991), sự ra đời của thuyết hành vi dự định TPB xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người có ít sự kiểm soát dù động cơ của đối tượng là rất cao từ thái độ và tiêu chuẩn chủ quan nhưng trong một số trường hợp, họ vẫn không thực hiện hành vi vì có các tác động của điều kiện bên ngoài lên ý định hành vi. Lý thuyết này đã được Ajzen bổ sung từ năm 1991 bằng việc đề ra thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức. Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn chỉ thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không. Theo mô hình TPB, động cơ hay ý định là nhân tố thúc đẩy cơ bản của hành vi tiêu dùng.
Động cơ hay ý định bị dẫn dắt bởi ba tiền tố cơ bản là thái độ, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức. Mô hình các thành phần của Thuyết hành vi dự định TPB. Ngoài ra, mô hình TPB cũng có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi. Các hạn chế đầu tiên là yếu tố quyết định ý định không giới hạn thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi nhận thức mà có thể có các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi.
Cảm xúc của một người tại thời điểm ra quyết định bị bỏ qua mặc dù có liên quan đến mô hình vì cảm xúc có thể ảnh hưởng đến niềm tin và các cấu trúc khác của mô hình. Thông qua kết quả nghiên cứu của thuyết hành vi hợp lý và thuyết hành vi dự định, tác giả nhận thấy có thể áp dụng trong quá trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của KHCN tại BIDV CN Tiền Giang. Quá trình ra quyết định sử dụng/ quyết định mua. Khái niệm về hành vi khách hàng.
Theo Philip Kotler và Levy (1969): Hành vi khách hàng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ. Moven và Michael Minor (1997): Hành vi khách hàng được định nghĩa là việc nghiên cứu các cá nhân mua hàng và quá trình trao đổi liên quan đến việc thu mua, tiêu thụ và nhượng bán hàng hoá, dịch vụ, kinh nghiệm và ý tưởng. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Hành vi khách hàng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Hay nói cách khác, hành vi khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng.
Trong đó, cho vay chính là một sản phẩm/ dịch vụ mà ngân hàng – đóng vai trò người bán – đang cung cấp cho khách hàng muốn vay – đóng vai trò người mua. Vậy thì, quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân cũng chính là một hành vi khách hàng. Quá trình ra quyết định sử dụng/ quyết định mua.