Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu sự hài lòng khách hàng - Chương 2: Thiết kế nghiên cứu sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ thẻ của Agribank - chi nhánh Bình Định - Chương 3: Kết quả nghiên cứu sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ thẻ của Agribank - chi nhánh Bình Định - Chương 4: Một số khuyến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng khách hàng về dịch vụ thẻ của Agribank - chi nhánh Bình Định 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tác giả đã tham khảo một số công trình nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng Việt Nam, nhƣ sau: Luan van 4 - Đề tài thứ 1: “ Phân tích mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thẻ ATM trên địa bàn thành phố Cần Thơ” Huỳnh Minh Trường, Cần Thơ (2010) Mô hình đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thẻ ATM trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2010. Nghiên cứu dựa trên 5 biến quan sát của SERVQUAL làm cơ sở phân tích. Ngoài ra, căn cứ vào kết quả thảo luận với khách hàng, kết quả của những nghiên cứu trƣớc và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, một số yếu tố khác cũng đƣợc bổ sung hoặc điều chỉnh cho thang đo SERVQUAL.
Mô hình đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thẻ ATM trên địa bàn thành phố Cần Thơ Tính hữu hình Tính đảm bảo (4 biến số) (7 biến số) Sự hài lòng của khách hàng sử Tính đáng tin cậy Tính thấu hiểu (5 biến số) dụng thẻ ATM (4 biến số) tại TP.Cần Thơ Tính đáp ứng Tính tiếp cận (10 biến số) (5 biến số) Kết quả nghiên cứu cho thấy thang đo đo lƣờng của tất cả các biến số cấu thành chất lƣợng dịch vụ đều đạt độ tin cậy khá cao và các yếu tố thành phần cấu thành các biến số đo lƣờng có thể tiếp tục sử dụng để đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ cung ứng của các ngân hàng cho khách hàng. Kết quả kiểm định khoảng cách giữa chất lƣợng cảm nhận và chất lƣợng mong đợi của khách hàng cho thấy chất lƣợng dịch vụ thẻ ATM không đáp ứng đƣợc mong đợi của khách hàng sử dụng. Chất lƣợng dịch vụ thẻ ATM nói chung chƣa đáp ứng đƣợc sự kỳ vọng của khách hàng sử dụng, về mặt lý thuyết có thể nói chất lƣợng dịch vụ thẻ còn thấp. Luan van 5 Kết quả kiểm định các biến số đo lƣờng riêng cho từng liên minh thẻ cũng chỉ rõ rằng chất lƣợng dịch vụ thẻ chƣa đáp ứng đƣợc sự mong đợi của khách hàng và mức độ thỏa mãn của khách hàng ở liên minh Smartlink có phần thấp hơn so với Banknetvn.
Kết quả tính toán khoảng cách điểm, điểm tỷ lệ giữa cảm nhận thực tế và mong đợi của khách hàng đã chỉ ra thứ tự ƣu tiên cải tiến chất lƣợng dịch vụ, cụ thể ƣu tiên cải tiến theo biến số đƣợc thiết lập từ phần kết quả kiểm định phía trƣớc là: Tính tin cậy – Tính tiếp cận – Tính đáp ứng – Tính thấu hiểu khách hàng – Tính đảm bảo – Tính hữu hình. - Đề tài thứ 2: Đánh giá chất lượng dịch vụ tại Chi nhánh NHNo&PTNT Vĩnh Linh Mô hình đánh giá chất lƣợng dịch vụ tại Chi nhánh NHNo&PTNT (Agribank) huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị do TS. Phan Thị Minh Lý và ThS. Nguyễn Thiên Tùng nghiên cứu.
Hai tác giả trên vận dụng quan niệm và mô hình SERVQUAL của Parasuraman (1988) để đo lƣờng và đánh giá chất lƣợng dịch vụ của Agribank chi nhánh Vĩnh Linh Hình 2. Mô hình đo lường sự hài lòng khách hàng sử dụng dịch vụ NHNo&PTNT huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Mức độ tin cậy 0.172 Sự hài lòng của khách 0.171 hàng về chất Năng lực phục vụ lƣợng dịch vụ 0.225 AGRIBANK Vĩnh Linh Sự thấu cảm 0.164 Phƣơng tiện hữu hình Luan van 6 Kết quả xử lý thông tin từ khảo sát khách hàng cho thấy, thang đo cả 5 thành phần chất lƣợng dịch vụ ngân hàng đƣa vào nghiên cứu này đều đảo bảo phù hợp và phân tích nhân tố là phù hợp với tập dữ liệu khảo sát khách hàng, 23 biến đều đủ điều kiện đƣa vào phân tích. Kết quả phân tích phù hợp với mô hình của Parasuraman (1988) và một số nghiên cứu khách về chất lƣợng dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam.
Kết quả hồi quy cho thấy mô hình hồi quy đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu và 62.4% sự hài lòng của khách hàng đƣợc giải thích bởi 5 thành phần chất lƣợng dịch vụ ngân hàng nghiên cứu. Hàm hồi quy đƣợc viết nhƣ sau: Y = 0.164X5 Mô hình trên gợi ý cho các nhà quản trị của chi nhánh Agribank Vĩnh Linh trong việc cải tiến và nâng cao chất lƣợng dịch vụ của ngân hàng mình. Theo đó, Chi nhánh có thể tập trung nhiều hơn để tăng thêm sự tin cậy và sự thấu cảm đối với khách hàng của mình. Đồng thời cũng cần nâng cao năng lực phục vụ, khả năng đáp ứng khách hàng và không nên bỏ qua yếu tố phƣơng tiện hữu hình.
- Đề tài thứ 3: “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng Doanh nghiệp đối với sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng HSBC” Mô hình Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng Doanh nghiệp đối với sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng HSBC do Đỗ Tiến Hòa nghiên cứu. Tác giả trên vận dụng quan niệm và mô hình SERVQUAL của Parasuraman (1988), Mô hình SERVPERF (Cronin and Taylor, 1992) và Mô hình FSQ and TSQ (GrÖnroos,1984) để nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng Doanh nghiệp đối với sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng HSBC Mô hình nghiên cứu đƣợc thiết lập dựa trên xem xét yếu tố then chốt tác động đến sự hài lòng khách hàng là chất lƣợng dịch vụ (6 nhân tố: Sự hữu hình, Phong cách phục vụ, Hình ảnh doanh nghiệp, Sự tín nhiệm, Danh mục Luan van 7 phục vụ, Tiếp xúc khách hàng), kế đến là yếu tố Giá cả, và sau cùng là Hình ảnh doanh nghiệp với các tiêu chí, và thang đo sử dụng mang tính tổng hợp và đƣợc điều chỉnh cụ thể. Kết quả hồi quy cho thấy 98,8% sự hài lòng của khách hàng đƣợc giải thích bởi 6 thành phần. Hàm hồi quy đƣợc viết nhƣ sau: Y = -120+ 0,309 X1+ 0,296 X2 + 0,286 X3 + 0,275 X4 + 0,272 X5 +0,245 X6 Trong đó: X1 : Tính cạnh tranh về giá X2 : Hình ảnh doanh nghiệp X3 : Sự tín nhiệm X4 : Sự thuận tiện X5 : Phong cách phục vụ X6 : Sự hữu hình Mô hình trên gợi ý cho các nhà quản trị của Ngân hàng HSBC trong việc cải tiến và nâng cao chất lƣợng dịch vụ của ngân hàng mình.
Trên đây là quá trình lƣợc khảo tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ nhƣng theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” 1.
Đặc tính dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác nhƣ tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lƣợng và không thể nhận dạng bằng mắt thƣờng đƣợc.Tính vô hình Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể nhƣ đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khi mua sản phẩm vật chất, khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lƣợng trƣớc khi mua nhƣng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá nhƣ thế. Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” nhƣ sản phẩm vật chất.
Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lƣợng dịch vụ một cách đúng đắn nhất. Tính không đồng nhất Đặc tính này còn đƣợc gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thƣờng khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà Luan van 9 cung cấp dịch vụ, ngƣời phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tƣợng phục vụ và địa điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “cao cấp”, “phổ thông” đến “thứ cấp”.
Vì vậy, việc đánh giá chất lƣợng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vảo một thƣớc đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trƣờng hợp cụ thể. Tính không thể tách rời Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thƣờng diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau. Nếu hàng hóa thƣờng đƣợc sản xuất, lƣu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến ngƣời tiêu dùng thì dịch vụ đƣợc tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó.
Đối với sản phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Nói cách khác, sự gắn liền của hai quá trình này làm cho dịch vụ trở nên hoàn tất. Tính không thể cất trữ Dịch vụ không thể cất trữ, lƣu kho rồi đem bán nhƣ hàng hóa khác. Chúng ta có thể ƣu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trƣớc sau nhƣng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại.
Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm đƣợc sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Dịch vụ thẻ thanh toán của ngân hàng a. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Bản thân ngân hàng là một dạng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tiền tệ, thu phí của khách hàng, đƣợc xét thuộc nhóm ngành dịch vụ.