Chương 1 đã khái quát tình hình nợ xấu tại các NHTM Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy tác động tiêu cực của vấn đề nợ xấu đến hoạt động tín dụng của ngân hàng và nền kinh tế. Qua đó, xây dựng mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để làm tiền đề cho việc xây dựng cơ sở lý luận và tìm ra các nhân tố có tác động đến tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng ở các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết, các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu cũng như cũng như hệ thống hóa vấn đề nghiên cứu thông qua các nghiên cứu trước đây ở trong nước và ngoài nước.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU 2. Khái niệm về nợ xấu Có thể nói, nợ xấu là một thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới với các từ nhƣ “Nonperforming loans” (NPL), “bad debt”, “doubtful debt” chỉ các khoản nợ khó đòi (Fofack, 2005) hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997) hoặc khoản nợ không trả đƣợc (defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst & Young, 2004) hay các khoản cho vay bắt đầu đƣợc đƣa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên (Peter Rose, 2004; Mishkin, 2010). Hiện tại không có một quy tắc hay chuẩn mực thống nhất khi thảo luận về vấn đề nợ xấu. Theo quan điểm về nợ xấu của NHTW Châu Âu (ECB): “Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc là những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng”.
Nhƣ vậy, ECB nhìn nhận nợ xấu dựa trên kết quả trả nợ của khách hàng đối với ngân hàng. Nhóm chuyên gia tƣ vấn (AEG) của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên đƣợc sử dụng nhƣ hƣớng dẫn cho các ngân hàng (AEG, 2004). AEG thống nhất định nghĩa “Về cơ bản, một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ”. 10 Nói cách khác, nợ xấu đƣợc xác định trên 2 yếu tố là quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ bị nghi ngờ.
Tƣơng tự nhƣ vậy, trong mục 4.84 của “Bộ chỉ số lành mạnh tài chính” (IMF‟s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004). Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã nhận định rằng: “Một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi đã quả hạn thanh toán gốc hoặc lãi 3 tháng (90 ngày) hoặc hơn; khi các khoản lãi quá hạn 3 tháng (90 ngày) hoặc hơn đã đƣợc vốn hóa, tái cơ cấu, hoặc hoãn trả nợ theo thỏa thuận. Thêm vào đó, nợ xấu còn bao gồm cả các khoản thanh toán quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng về việc ngƣời vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ, ví dụ nhƣ khi ngƣời vay phá sản”. Trong khi đó, Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) không đƣa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu.
Tuy nhiên, trong các hƣớng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng. BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả (a default) khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi ví dụ nhƣ giải chấp Chứng khoản (nếu đang nắm giữ): (1) ngƣời vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (BCBC, 2002), BCBS đặc biệt nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tƣơng lai” (expected loss) khi đánh giá một khoản vay. Dựa trên hƣớng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu ngƣời đi vay không trả đƣợc nợ. Tuy nhiên, một vài quốc gia báo cáo nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn 31 ngày quá hạn, hoặc báo cáo các khoản nợ quá hạn 61 ngày đƣợc tính vào danh mục nợ xấu (Adriaan Bloem và Cornelis Gorter, 2004).
Chính vì mốc thời gian quá hạn là 90 ngày là một tiêu chí khá phổ biến nhƣng không phải thống nhất hoàn toàn, vì vậy việc đánh giá và so sánh số liệu nợ xấu giữa các quốc gia cần phải hết sức thận trọng và đƣợc kiểm tra kỹ lƣỡng các quy định cụ thể định tính và định lƣợng ở từng quốc gia. Tại Việt Nam, theo Quyết định số 22 VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín 11 dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng quy định Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và hoặc lãi đã quá hạn. Nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3 (nợ dƣới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Phân loại nợ xấu Theo David Bholat và ctg (2016), việc phân loại nợ xấu khó có có tiêu chuẩn quốc tế thống nhất.
Việc phân loại và tiếp cận nợ xấu tùy thuộc vào trách nhiệm của ngƣời quản lý hoặc ngƣời giám sát hệ thống ngân hàng. Bảng 1 trình bày về việc phân loại nợ của một số quốc gia trên thế giới. Theo đó, một số nƣớc đã phát triển nhƣ Mỹ và Đức đã có cách tiếp cận và phân loại nợ rõ ràng. Ở các quốc gia đang phát triển hoặc các quốc gia có hệ thống pháp luật gặp nhiều hạn chế, các nhà quản lý hoặc giám sát ngân hàng thƣờng tự đƣa ra trách nhiệm phát triển và phân loại loại nợ xấu theo hình thức nội bộ.
Tại Anh, các nhà giám sát ngân hàng không yêu cầu các ngân hàng áp dụng loại hình phân loại nợ cụ thể. Bên cạnh đó, các nƣớc thuộc khối liên minh châu Âu quy định yêu cầu tối thiểu về một khoản vay đƣợc xem là nợ xấu nhƣng lại không có chi tiết và hƣớng dẫn cụ thể. Các nƣớc châu Á thƣờng quy định khoản vay đƣợc xem là nợ xấu khi khoản vay thuộc nhóm 4 hoặc 5 và có cách phân loại tƣơng đồng giữa các quốc gia. Phân loại nhóm nợ giữa các quốc gia Số lƣợng Quốc gia Giải thích Nguồn nhóm vay Các khoản vay bao gồm: (i) Nợ đủ tiêu chuẩn; (ii) Nợ đặc biệt theo sát; (iii) Nợ Banco Central Agrentina 6 dƣới tiêu chuẩn; (iv) Nợ có rủi ro cao; de la República (v) Nợ khó thu hồi; (vi) Nợ không thể Argentina thu hồi dựa trên các tiêu chí kỹ thuật.
Úc 5 Khoản nợ đƣợc xem là nợ xấu không Australian 12 kể là 90 ngày hay không, mà là khoản Prudential nợ bị nghi ngờ khả năng trả nợ, bao Regulation gồm lãi và các khoản thu khác. Trong Authority hệ thống tài chính của Úc, yêu cầu về xác định đầy đủ mức độ mất mát đặc biệt áp dụng cho phạm vi của các khoản tài trợ linh hoạt, bao gồm khoản cho vay mà trả nợgốc chỉ thanh toán 1 lần khi đến hạn. Các khoản vay gồm: (i) Khoản nợ quá hạn 90 ngày; (ii) Nợ không quá 90 ngày nhƣng đƣợc xếp loại E, F, G hoặc Banco Central Brazil 9 H, theo các quy định phân loại rủi ro; do Brasil (iii) nợ tái cơ cấu. Phân loại nợ theo 9 nhóm AA, A, B, C, D, E, F, G hoặc H.
Theo các quy tắc giám sát, phân loại nợ Office of the bao gồm nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú Superintendent Trung Quốc 5 ý, nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và of Financial nợ mất vốn. Institutions Bundesanstalt Bao gồm: cho vay không rủi ro, cho für Đức 4 vay có dấu hiệu rủi ro, nợ có dấu hiệu Finanzdienstleis- không thu hồi, nợ xấu. tungsaufsicht (BaFin) Nợ xấu là khoản nợ mà: (i) Lãi suất và/ hoặc phần gốc vẫn còn quá hạn hơn 90 ngày; (ii) Khoản nợ không có khả năng Reserve Bank of Ấn Độ 4 thanh toán và (iii) Quá hạn hơn 90 ngày India trong trƣờng hợp mua hoặc chiết khấu thƣơng phiếu. Nợ xấu là các khoản vay phân loại là Indonesia 5 nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ Bank Indonesia có khả năng mất vốn.
13 Các khoản vay đƣợc phân thành bốn loại: (i) Bị phá sản hoặc bán phá sản; Financial Nhật Bản 4 (ii) Nợ nghi ngờ; (iii) Nợ cần chú ý và Services Agency (iv) Nợ đủ tiêu chuẩn. Bao gồm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và The Bank of Hàn Quốc 5 nợ có khả năng mất vốn. Nợ xấu là Korea khoản nợ phản ánh khả năng trả nợ suy giảm và rủi ro phá sản cao. 7 nhóm đƣợc phân loại dựa trên rủi ro Banco de Mexico 7 quốc gia, rủi ro tài chính, rủi ro ngành México và lịch sử thanh toán.
Các khoản vay bao gồm (i) Nợ đủ tiêu chuẩn – không có rủi ro tín dụng; (ii) Nợ dƣới chuẩn - rủi ro tín dụng trung Central Bank of Nga 5 bình; (iii) Nợ khó đòi - rủi ro tín dụng the Russian đáng kể; (4) Nợ có vấn đề - rủi ro tín Federation dụng cao và (5) nợ có khả năng mất vốn - không có khả năng thu hồi nợ. Nợ xấu là khoản nợ quá hạn trên 90 European Liên minh 5 ngày và rủi ro không hoàn trả nợ không Banking Châu Âu có tài sản thế chấp. Authority (EBA) Nguyên tắc kế toán chung (GAAP) yêu cầu các chủ nợ đo lƣờng nợ xấu dựa trên giá trị hợp lý của tài sản thế chấp. Securities and Ngoài ra, GAAP cho phép chủ nợ đo Mỹ 5 Exchange lƣờng nợ xấu về khả năng hoàn trả các Commission khoản vay dự kiến bởi tài sản thế chấp dựa trên giá trị hợp lý của các tài sản thế chấp.
(Nguồn: David Bholat và ctg (2016)) Ngân hàng thế giới (World Bank) đã tiến hành phân loại nợ nhƣ sau: 14 Bảng 2.