Chương 1: giới thiệu bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của KHCN vay kinh doanh tại Agribank Chi nhánh huyện Vĩnh Hưng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng và định tính, nhằm xác định, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố và đề xuất giải pháp giảm thiểu nợ xấu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VAY KINH DOANH 2.1 Các khái niệm liên quan đến nợ xấu và hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 2.1 Khái niệm về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, việc phân loại theo đối tượng khách hàng thường chia thành hai nhóm chính: cho vay khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng doanh nghiệp. Trong đó, cho vay KHCN đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu tài chính đa dạng của cá nhân và hộ gia đình.
Theo Phương & Nhung (2020), các mục đích vay vốn của KHCN thường bao gồm việc mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhà cửa, mua xe, chi tiêu tiêu dùng, hỗ trợ học tập, y tế, giáo dục, và đặc biệt là mở rộng sản xuất kinh doanh. Những nhu cầu này phản ánh sự đa dạng trong cuộc sống và hoạt động kinh tế của các cá nhân và hộ gia đình, đòi hỏi sự linh hoạt và thích ứng từ phía ngân hàng. Trên cơ sở các khái niệm đã tìm hiểu, có thể hiểu rằng cho vay KHCN là một hình thức quan hệ tín dụng, trong đó NHTM cung cấp vốn cho các cá nhân và hộ gia đình với một mức lãi suất và thời hạn nhất định. Khoản vay này nhằm hỗ trợ các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, hoặc phát triển sản xuất kinh doanh của các đối tượng vay vốn.
Khía cạnh này của tín dụng ngân hàng không chỉ giúp người vay giải quyết các nhu cầu tài chính ngắn hạn và dài hạn mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế cá nhân, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội chung. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề án này, tác giả chỉ tập trung vào khía cạnh cho vay đối với KHCN vay vốn để kinh doanh. Điều này bao gồm việc cung cấp vốn cho các cá nhân và hộ gia đình nhằm phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của họ, từ mở rộng quy mô sản xuất đến phát triển các dự án kinh doanh mới. Việc phân tích và hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng nợ xấu của khách hàng cá nhân vay kinh doanh là cần thiết, giúp các ngân hàng thương mại tối ưu hóa quy trình thẩm định, giảm thiểu rủi ro tín dụng, và hỗ trợ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế của các cá nhân và hộ gia đình.2 Khái niệm nợ xấu Khái niệm nợ xấu được sử dụng phổ biến trong ngành ngân hàng và tài chính.
Theo Mishkin (2019) trong “Tiền tệ, Ngân hàng và Thị trường Tài chính” nợ xấu được định nghĩa là các khoản vay mà người vay không thể thanh toán lãi hoặc gốc đúng theo thỏa thuận giữa hai bên, các khoản vay này được xem là rủi ro vì khả năng hoàn trả thấp gây tổn thấp nghiêm trọng cho ngân hàng hay TCTD nếu không quản lý hiệu quả. Ở Việt Nam, theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN: “nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”. Từ các khái niệm trên, nợ xấu là những khoản nợ mà việc thu hồi trở nên khó khăn, thường xuyên làm ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của ngân hàng hoặc TCTD. Điều này thường xảy ra khi người vay không thể hoặc không chịu trách nhiệm trả nợ theo thỏa thuận đã được đề ra trong hợp đồng tín dụng.
Một trong những tiêu chí cụ thể để xác định một khoản nợ là nợ xấu nếu quá hạn thời gian thanh toán trên 90 ngày. Những đối tượng bị xác định là có nợ xấu sẽ bị đưa vào danh sách khách hàng nợ xấu trên Trung tâm Thông Tin Tín Dụng Quốc gia Việt Nam (CIC). Theo Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, hiện nay thì các khoản nợ được chia thành 5 nhóm theo phương pháp định lượng như sau: Bảng 2. Phân loại nợ theo phương pháp định lượng Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 (Nợ đủ tiêu (Nợ cần (Nợ dưới (Nợ nghi ngờ) (Nợ có khả năng chuẩn) chú ý) tiêu chuẩn) mất vốn) - Nợ quá - Nợ quá - Nợ quá hạn - Nợ quá hạn từ - Nợ quá hạn trên hạn dưới 10 hạn từ 10 từ 91 đến 180 181 đến 360 360 ngày.
- Các khoản - Các khoản - Các khoản vay - Các khoản vay vay nợ được vay nợ đã được nợ đã được điều nợ đã được điều điều chỉnh điều chỉnh kỳ chỉnh kỳ hạn chỉnh kỳ hạn kỳ hạn hạn thanh toán thanh toán lần thanh toán lần thanh toán lần đầu nhưng đầu nhưng quá 7 lần đầu còn quá hạn dưới hạn từ 30 đến 90 đầu nhưng quá trong hạn. hạn trên 90 ngày. - Các khoản - Các khoản vay - Các khoản vay vay nợ được nợ đã được điều nợ đã được điều điều chỉnh kỳ chỉnh kỳ hạn chỉnh kỳ hạn hạn thanh toán thanh toán lần thanh toán lần hai lần hai. hai nhưng quá nhưng quá hạn hạn dưới 30 trên 30 ngày.
-Các khoản vay nợ đã được điều chỉnh kỳ hạn thanh toán lần ba trở lên (kể cả chưa quá hạn hay đã quá hạn). Nguồn: Tác giả tổng hợp Nợ nhóm 1, nhóm 2 chưa bị xếp vào nhóm nợ xấu, ngân hàng hay TCTD vẫn có thể xem xét cho vay theo nhu cầu. Các nhóm nợ còn lại (nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5) bị xếp vào nhóm nợ xấu, khi đó nếu người vay không tiến hành thanh toán nợ như theo cam kết trong hợp đồng tín dụng sẽ bị đưa vào danh sách nợ xấu. Theo Điều 11 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, các khoản nợ được chia thành 5 nhóm theo phương pháp định tính như sau: Bảng 2.
Phân loại nợ theo phương pháp định tính Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 (Nợ đủ (Nợ cần (Nợ dưới (Nợ (Nợ có khả tiêu chuẩn) chú ý) tiêu chuẩn) nghi ngờ) năng mất vốn) Các khoản nợ Các khoản nợ có Các khoản nợ Các khoản nợ Các khoản nợ có khả năng khả năng thu hồi không có khả có khả năng không còn khả 8 thu hồi đầy đủ đầy đủ gốc, lãi năng thu hồi tổn thất cao, năng thu hồi, gốc, lãi và và KH thực hiện gốc, lãi đến có khả năng khả năng mất KH thực hiện nghĩa vụ theo hạn, có khả mất vốn và vốn và KH đầy đủ nghĩa cam kết nhưng năng mất vốn KH không không thực vụ theo cam có dấu hiệu suy và KH không thực hiện cam hiện cam kết. kết giảm khả năng thực hiện đầy kết rất cao. đủ nghĩa vụ theo cam kết. Nguồn: Tác giả tổng hợp Nợ xấu là một danh sách mà các ngân hàng hay TCTD có thể tra cứu nên khi bị đưa vào danh sách này sẽ ảnh hưởng đến điểm tín dụng.
Người dính nợ xấu thường không được ngân hàng hay TCTD chấp nhận cho vay do khả năng thu hồi của các tổ chức, cá nhân thuộc nhóm nợ này là rất thấp và có khả năng mất vốn cao nên việc đi vay thường rất khó khăn. Nợ xấu trong hoạt động cho vay kinh doanh đối với KHCN gây ra những hậu quả đáng lo ngại cho cả khách hàng và ngân hàng. Đối với khách hàng, nợ xấu không chỉ làm mất cơ hội tiếp cận các nguồn vốn trong tương lai mà còn tạo áp lực tài chính lớn, có thể dẫn đến việc mất tài sản đảm bảo và gây ra những hệ lụy tâm lý như căng thẳng, lo âu. Về phía ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu cao làm gia tăng rủi ro tín dụng, buộc ngân hàng phải dành nguồn lực đáng kể cho việc quản lý và xử lý nợ, từ đó làm tăng chi phí hoạt động và giảm lợi nhuận.
Không chỉ vậy, nợ xấu còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, khiến lòng tin của nhà đầu tư và khách hàng suy giảm, từ đó làm khó khăn hơn cho việc huy động vốn và mở rộng hoạt động. Ở cấp độ rộng hơn, khi nợ xấu gia tăng trong hệ thống ngân hàng, nó có thể làm giảm khả năng cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, kìm hãm sự phát triển kinh tế và tạo ra vòng xoáy suy thoái, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự ổn định kinh tế vĩ mô.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của khách hàng cá nhân vay kinh doanh Nhóm thông tin cá nhân, phản ánh nhiều khía cạnh của khách hàng như tuổi tác, trạng thái hôn nhân, trình độ học vấn, người phụ thuộc: Tuổi tác là một biến quan trọng ảnh hưởng đến nợ xấu của khách hàng khi đi vay. Đa số các nghiên cứu cho rằng người lớn tuổi thường có sự ổn định tài chính hơn do họ 9 đã có thời gian để tích luỹ tài sản và thiết lập một kế hoạch tài chính cho riêng mình. Theo Crook (1995) các khách hàng lớn tổi thường cẩn trọng hơn trong việc quản lý tài chính, tránh các khoản vay rủi ro, duy trì khả năng trả nợ tốt hơn từ đó giảm nguy cơ nợ xấu.
Trạng thái hôn nhân có thể đóng một vai trò đáng kể trong việc ảnh hưởng đến nợ xấu của cá nhân. Thường những người đã kết hôn thường thể hiện sự ổn định hơn, và có xu hướng đưa ra các quyết định tài chính một cách cẩn thận hơn. Bên cạnh đó, việc vay mượn của họ thường được thực hiện với mục đích kinh doanh chung, đồng nghĩa với việc chia sẻ trách nhiệm và gánh nặng tài chính cùng nhau, có thể hỗ trợ lẫn nhau trong việc quản lý và trả nợ giúp giảm thiểu nguy cơ nợ xấu. Mặc dù không có nhiều nghiên cứu tập trung vào việc khảo sát mối liên hệ giữa trình độ học vấn và nợ xấu, nhưng lý thuyết cho rằng người có trình độ học vấn cao thường có kỹ năng quản lý tài chính tốt hơn.
Trình độ học vấn cao thường đi kèm với kiến thức sâu rộng về tài chính cá nhân, giúp họ hiểu biết rõ hơn về các sản phẩm và dịch vụ tài chính. Điều này giúp họ có khả năng xây dựng kế hoạch tài chính hiệu quả và tìm cách giảm thiểu rủi ro tín dụng, từ đó giảm thiểu nguy cơ nợ xấu. Có nhiều nghiên cứu cho rằng số người phụ thuộc ảnh hưởng cùng chiều với nợ xấu.