CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng tại ngân hàng thương mại Việt Nam”. Cụ thê, tác giả đã giải thích lý do chọn đề tài xuất phát từ tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của tín dụng đối với hoạt động ngân hàng. Tác giả cũng đã trình bày mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu xoay quanh tốc độ tăng trưởng tín dụng tại các NHTM Việt Nam; phạm vi nghiên cứu là 26 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2010 — 2018.
Ngoài ra, tác giả cũng tổng quát về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. CHUONG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÈ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN TÓ ANH HUONG DEN TANG TRUONG TiN DUNG Trong chương này tác giả sẽ trình bay tổng quan về lý thuyết, các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng tại ngân hàng thương mại; lược khảo các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài; từ những vấn đề còn tồn tại, qua đó tác giả xác định được các vấn đề chính cần giải quyết trong luận văn để đưa ra mô hình nghiên cứu phủ hợp.1 TANG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2.1 Khái niệm Trong mỗi giai doan cla nền kinh tế, nhà hoạch định chính sách luôn có những chính sách tiền tệ thắt chặt hay nới lỏng khác nhau; các nhà quản trị ngân hàng cũng có những định hướng nhất định đối với hoạt động tín dụng của mình. Những chính sách này biểu hiện qua sự thay đổi lượng cung tiền. Sự thay đổi lượng cung ứng tiền tệ mà ngân hàng đưa ra nền kinh tế được gọi là tăng trưởng tín dụng ngân hàng.
Tăng trưởng tín dụng đương khi ngân hàng tăng thêm một lượng cung ứng tiền tệ đưa vào lưu thông trong nền kinh tế, ngược lại, tăng trưởng tín dụng âm khi lượng cung ứng tiền tệ sụt giảm, thé hiện xu hướng thắt chặt tiền tệ. Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), tăng trưởng tín dụng là việc các NHTM sử dụng các chính sách nhằm tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân. có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị trường. Tăng trưởng tín dụng ngân hàng được hiểu là sự tăng lên của các khoản tín dụng do hệ thống ngân hàng cấp cho các cá nhân, doanh nghiệp và các tô chức khác trong nền kinh tế.
Đây là điều rất cần thiết để có thể đáp ứng nhu cầu về vốn ngày càng tăng trong quá trình phát triển của toàn xã hội. Tăng trưởng tín dụng có chất lượng cao sẽ mang đến hiệu quả hoạt động tín dụng cao. Tín dụng có chất lượng là tín dụng mà ngân hàng cấp tín dụng đúng theo các tiêu chuẩn quy định an toàn vốn của Ngân hàng nhà nước; quản lý chặt chẽ đảm bảo người đi vay sử dụng vốn đúng mục đích. Nhờ đó đảm bảo thu hồi vốn và lãi đúng thời hạn, hạn chế rủi ro mất vốn.
Như vậy, việc tăng trưởng tín dụng có chất lượng sẽ tăng thêm hiệu quả hoạt động tín dụng. Đối với các nhà quản trị ngân hàng, việc duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng song song với đảm bảo chất lượng tín dụng mang lại hiệu quả cao là hết sức quan trọng. Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng cần đạt đến giới hạn dựa theo các yếu tố nguồn lực vốn, nhân lực, công nghệ của ngân hàng đó. Nếu tăng trưởng tín dụng vượt quá kiêm soát sẽ dễ dẫn đến tình trạng ngân hàng mắt khả năng thanh toán, chất lượng tín dụng giảm sút, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng, thậm chí gây thua lỗ.
Do đó, các nhà quản trị ngân hàng cần có những chính sách quản trị rủi ro phù hợp với tình hình vĩ mô cũng như tình hình nội tại ngân hàng. Có như vậy thì tăng trưởng tín dụng mới hiệu quả, đảm bảo sự phát triền bền vững của ngân hàng.2 Một số chỉ tiêu đo lường tăng trưởng tín dụng Mức độ tăng trưởng tín dụng được số hóa thành các giá trị đo lường cụ thê như sau: Quy mô tăng trưởng tín dụng: được xác định bằng cách tính số liệu chênh lệch giữa tông giá trị các khoản tín dụng ngân hàng cung ứng trong kỳ tính toán so với kỳ so sánh, phản ánh mức độ tăng trưởng nhiều hay ít theo giá trị tuyệt đối. Được tính theo công thức: Quy mô tăng trưởng tín dụng:y ¡ = Tong gid trị cap tin dung,; + — Tổng giá trị cấp tín dụngky so sánh Tốc độ tăng trưởng tín dụng: được xác định bằng cách tính số liệu tỷ lệ thay đổi giữa giá trị khoản tín dụng ngân hàng cung ứng trong kỳ tính toán so với kỳ so sánh, phản ánh mức độ tăng trưởng nhiều hay ít theo giá trị tương đối. Được tính theo công thức: Tốc độ tăng trưởng tín dụng; : = [(Tống giá trị cấp tín dụng¿y: / Tổng giá trị cấp tín dụngxy so sinh) — 1]*100% Trong đó Tổng giá trị cấp tín dụng tại các thời điểm so sánh được tính bằng toàn bộ giá trị các khoản mục được xem là cấp tín dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng (2010).2 CAC NHAN TO ANH HUONG DEN TANG TRƯỞNG TÍN DỤNG NGAN HANG 2.1 Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến tín dụng ngân hàng 2.1 Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế tác động đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng qua hai góc độ.
Thứ nhất, ở góc độ tiêu dùng cá nhân, khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập của cá nhân và hộ gia đình được cải thiện, họ sẽ có xu hướng chi tiêu nhiều hơn, qua đó thúc đây tiêu dùng xã hội. Để đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu tăng lên trong xã hội, các thành phần kinh tế sẽ có khuynh hướng tìm những nguồn tài trợ vốn cho tiêu dùng, như tín dụng ngân hàng. Như vậy, từ góc độ chỉ tiêu cá nhân, tăng trưởng kinh tế và kỳ vọng tăng trưởng kinh tế sẽ có tác động tới tăng trước tín dụng ngân hàng theo hướng tích cực. Thứ hai, ở góc độ doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế giúp các doanh nghiệp lạc quan hơn, nền kinh tế có triển vọng tăng trưởng càng nhiều thì cơ hội kinh doanh càng nhiều và càng đáng giá để đầu tư hơn.
Từ đó, doanh nghiệp sẽ có xu hướng gia tăng sản xuất, mở rộng quy mô đầu tư. Điều này sẽ thúc đây nhu cầu tín dụng của các chủ thê này, qua đó làm gia tăng tốc độ tăng trưởng tín dụng ngân hàng. Nghiên cứu của của Aydin B. (2008) cũng đã đưa ra kết luận rằng có một sự tác động cùng chiều của tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đối với sự bùng nỗ tín dụng ở các nước khu vực Trung và Đông Âu trong những năm đầu của thế kỷ XXI.
10 Kết quả này cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Pouw và Kakes (2013) khi nghiên cứu tác động của các nhân tô vĩ mô đến hoạt động của 28 ngân hàng quốc gia trong giai đoạn 1980-2009. Hai tác giả đã nhận thấy có sự tương quan cùng chiều giữa tăng trưởng GDP và hoạt động của các ngân hàng. Tuy nhiên, cũng có những quan điểm trái ngược với lập luận này. Nghiên cứu của Vu và Nahm (2013) đối với các nhân tổ tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam 2000 — 2006 cho ra kết luận rằng, tăng trưởng GDP sẽ có tác động ngược chiều với tăng trưởng trong các hoạt động của ngân hàng thương mại.
Điều này có thê nhìn nhận do tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự giàu có của các thành phần kinh tế: khi xã hội giàu có hơn, dân cư sẽ có xu hướng chỉ tiêu, đầu tư và tiết kiệm nhiều hơn. Khi đó, nếu khuynh hướng chỉ tiêu và đầu tư từ thu nhập tăng lên nhiều hơn so với khuynh hướng tiết kiệm, việc vay mượn sẽ không gia tăng đáng kể. Tăng trưởng tín dụng có thê âm nếu các thành phần kinh tế có xu hướng sử dụng thu nhập của họ cho hoạt động chi tiêu và đầu tư.2 Lạm phát Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả chứng minh lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng. Điển hình như nghiên cứu của Pouw và Kakes (2013), tác giả nhận thấy tỷ lệ lạm phát có tác động ngược chiều tới hoạt động của các ngân hàng.
Nghiên cứu của Vu và Nahm (2013) đối với các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam 2000 — 2006 cũng chứng minh kết quả tương tự, rằng tỷ lệ lạm phát sẽ có tác động ngược chiều đối với tăng trưởng trong các hoạt động của ngân hàng thương mại. Quan điểm này cũng đúng với kết quả nghiên cứu của Singh A. (2016), lạm phát tác động tiêu cực đến thanh toán cũng như nguồn vốn huy động đồ vào ngân hàng, thông qua đó sẽ dẫn đến tác động ngược chiều với khả năng mở rộng quy mô cắp tín dụng của ngân hàng thương mại. Điều này có thê giải thích là do lạm phát hàng năm của nền kinh tế ảnh hưởng đến hành vi của các chủ thể cung — cầu tín dụng, từ đó tác động đến độ lớn và tốc độ 11 tăng trưởng tín dụng ngân hàng.
Lạm phát gia tăng làm giảm thu nhập thực tế của các cá nhân và hộ gia đình, nhu cau tiết kiệm của họ cũng giảm xuống. Từ đó tác động tiêu cực đến việc huy động vốn của các ngân hàng thương mại, dẫn đến sự sụt giảm của hoạt động tín dụng do nguồn cung vốn bị giảm. Ngoài ra, lạm phát tăng và kéo dài sẽ kéo theo các động thái kiểm soát lạm phát bằng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thắt chặt. Thắt chặt tiền tệ làm giảm cung tiền ra nền kinh tế, từ đó dẫn đến sự sụt giảm trong hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng.
Tỷ lệ thất nghiệp Pouw và Kakes (2013) khi nghiên cứu tác động của các nhân tố vĩ mô đến hoạt động của 28 ngân hàng quốc gia trong giai đoạn 1980 — 2009 đã kết luận rằng tỷ lệ thất nghiệp có tác động tiêu cực đến hoạt động của các ngân hàng. Về mặt vĩ mô, bắt cứ giai đoạn nào mà tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và ở mức cao cũng là một trong những biểu hiện bất ôn của nền kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng kéo theo nhiều hệ lụy tiêu cực với nền kinh tế, và trong đó bao gồm tăng trưởng tín dụng ngân hàng.