CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG 1. Lý luận chung về rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Hệ thống Ngân hàng hiện nay đã có nhiều cải cách, tuy nhiên rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng.Fitch quan niệm: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của Ngân hàng” (Dictionary of Banking terms, Barron’c Educational, Inc, 1997) Timothy W.Koch cho rằng: “Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lời, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không thanh toán được vốn gốc và lãi theo thỏa thuận.
Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn thu nhập thuần và trị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. Brajovic Henuievan Greuning – Sonja Bratanovic định nghĩa: “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, gây ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng.” (The World Bank) Ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 2005, khi Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định 493 về phân loại nợ thì chúng ta mới có cái nhìn tổng quát về rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng.
2 Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 22/04/2005 quy định: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Tiếp theo là thông tư 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21/01/2013 quy định: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nhà nước do khách hàng không thự hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, rủi ro tín dụng được hiểu là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể khách hàng trả chậm nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 1. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng được chia thành rủi ro giao dịch và rủi ro hệ thống Rủi ro giao dịch là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch gồm 3 loại rủi ro chính: - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những Phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo… - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro có liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc xếp hạng khoản vay và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Sơ đồ phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch hệ thống Rủi ro Rui ro bảo Rủi ro nghiệp Rủi ro Rủi ro lựa chọn đảm vụ nội tại tập trung Rủi ro hệ thống: là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do hạn chế trong hoạt động quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Rủi ro hệ thống bao gồm: - Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn - Rủi ro tập trung là trường hợp Ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hay cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Ngoài ra, nếu căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng vay phải quy ước về thời gian hoàn trả nợ vay. 4 Tuy nhiên đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, những tổn thất xảy ra trong trường hợp này người ta gọi đó là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn. - Rủi ro do không có khả năng trả nợ: là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay đã mất khả năng chi trả. Do vậy ngân hàng phải thanh lý tài sản đảm bảo của khách hàng để thu hồi nợ.
Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng 1. Các dấu hiệu tài chính Các chỉ số thanh khoản cho thấy dấu hiệu suy yếu: hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toán tức thời…. Các chỉ tiêu này quá thấp cho thấy doanh nghiệp đang mất dần thanh khoản và có khả năng không trả được tiền vay cho ngân hàng. Cơ cấu vốn không hợp lý: được biểu hiện bằng hệ số nợ, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu, hệ số nợ dài hạn….
Nhìn chung, hệ số nợ cao trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thường phản ánh mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp cao. Các chỉ số khả năng sinh lời cho thấy dấu hiệu suy yếu: ROA (tỷ suất lợi nhuận / tổng tài sản), ROE (tỷ suất lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu)… Các vòng quay hoạt động thể hiện sự suy yếu: vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu… Các vòng quay ở mức không hợp lý thể hiện quá trình luân chuyển vốn không hiệu quả, vốn bị ứ đọng hoặc luân chuyển quá nhanh. Các chỉ số trên cho phép ta đánh giá được thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính cũng như khả năng trả nợ của doanh nghiệp, phát hiện ra những dấu hiệu của RRTD. Các dấu hiệu phi tài chính Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng - Có sự thay đổi về cơ cấu nhân sự trong hệ thống quản trị như: chủ tịch hồi đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, điều này có thể làm thay đổi các chính sách của công ty.
- Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống điều hành sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả và dòng tiền của phương án kinh doanh hoặc dự án. - Ít kinh nghiệm, xuất hiện nhiều hành động nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi, điều này ảnh hưởng đến khả năng giải quyết những khó khăn và đưa doanh nghiệp vượt qua khó khăn. - Thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên dẫn đến sự mất ổn đinh trong doanh nghiệp - Tranh chấp trong quá trình quản lý, khiến cho những chính sách điều hành công ty không thống nhất và ảnh hưởng đến sự hoạt động ổn định của công ty. - Chi phí quản lý bất hợp pháp, dễ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
Quản lý có tính gia đình Dấu hiệu liên quan đến khách hàng - Giảm sút mạnh số dư tiền gửi, khả năng thanh khoản của doanh nghiệp giảm và dẫn đến khả năng doanh nghiệp không có tiền trả nợ ngân hàng - Công nợ gia tăng và mức độ vay thường xuyên. Doanh nghiệp có thể yêu cầu khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến và chấp nhận nguồn tài trợ lãi suất cao, đối với các doanh nghiệp này có thể là họ rất cần tiền để kinh doanh, 6 tuy nhiên khả năng trả nợ cho ngân hàng không chắc chắn, có thể dẫn đến rủi ro tín dụng cho Ngân hàng. Dấu hiệu vấn đề kỹ thuật và thương mại - Khó khăn trong phát triển sản phẩm mới hoặc không có sản phẩm thay thế: khi bộ phận phát triển sản phẩm không làm tốt vai trò của mình thì sản phẩm của công ty tung ra thị trường sẽ không được người tiêu dùng đón nhận, doanh thu kém và thua lỗ. - Những thay đổi chính sách của nhà nước: nếu ngành nghề của công ty hoạt động không thuộc lĩnh vực nhà nước khuyến khích thì rất có thể khi chính sách nhà nước thay đổi, công ty sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong hoạt động.
- Thay đổi trong quyền sở hữu: khi công ty hoạt động không hiệu quả, chủ doanh nghiệp cạn kiệt vốn và thiếu năng lực điều hành, có thể sẽ phải nhượng lại công ty cho người khác có năng lực, điều hành tốt hơn để vực dậy công ty. - Thay đổi ngành nghề kinh doanh: công ty hoạt động không hiệu quả trong lĩnh vực này và quyết định chuyển sang lĩnh vực kinh doanh mới, chưa nhiều kinh nghiệm, chưa thể hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực mới nên rất nhiều rủi ro. - Sản phẩm có tính thời vụ cao: sản phẩm có tính thời vụ cao sẽ dẫn đến luồng tiền về không đều, khi thị trường biến động thì kết quả hoạt động của công ty cũng bị ảnh hưởng mạnh. - Có biểu hiện cắt giảm chi phí: chi phí được cắt giảm mạnh có thể là do tình hình hoạt động trên một bộ máy cồng kềnh thực sự không hiệu quả.
- Thay đổi trên thị trường về lãi suất và tỷ giá: khi lãi suất và tỷ giá biện động mạnh mà công ty không thích nghi kịp với thay đổi đó thì sẽ bị công ty khác cạnh tranh, nguy cơ dẫn đến phá sản. 7 - Mất khách hàng lớn: Công ty hoạt động không tốt, chính sách khách hàng không hiệu quả, sản phẩm thì kém hấp dẫn dẫn đến khách hàng bỏ công ty đi.