Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Tổng quan về thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của NHTM 2. Thanh khoản và cung cầu về thanh khoản 2. Khái niệm về thanh khoản Theo Trương Quang Thông (2012), “Thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó ra tiền mặt một cách nhanh chóng, với chi phí thấp nhất có thể, hay rộng hơn thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng”.
Trương Quang Thông (2012) đã nhấn mạnh một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh, trong khi đó, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng “Thanh khoản là khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một NHTM có tính thanh khoản khi có khả năng để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết ngay. Trạng thái thanh khoản Trạng thái thanh khoản được tính dựa trên chênh lệch giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản (Rose & Hudgins, 2008).
Cung thanh khoản là những nguồn cung cấp vốn của ngân hàng để làm tăng khả năng chi trả nhằm đáp ứng cầu thanh khoản, đây là những khoản sẵn có hoặc có thể có trong ngắn hạn khi ngân hàng thương mại hoạt động, bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, tiền gửi của khách hàng, tiền gửi của các tổ chức tín dụng, cho vay khách hàng, cho vay các tổ chức tín dụng được hoàn trả, tiền thu từ cung cấp dịch vụ, tiền vay trên thị trường tiền tệ, tiền thu từ bán tài sản, tiền vay của ngân hàng nhà nước, các khoản đầu tư 7 vào trái phiếu chính phủ. Cầu thanh khoản là nhu cầu thanh toán cho các nghĩa vụ tài chính đã cam kết của ngân hàng như: Nhu cầu rút tiền của khách hàng, các tổ chức tín dụng, nhu cầu cho vay khách hàng, thanh toán các khoản tiền vay đến hạn, chi phí hoạt động, cổ tức… (Rose & Hudgins, 2008). Rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm rủi ro thanh khoản Theo Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel, rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động hằng ngày và cũng không gây ảnh hưởng đến tình hình tài chính.
Rủi ro thanh khoản phát sinh do sự mất khả năng của ngân hảng để thích ứng với sự suy giảm các khoản phải trả hoặc tăng nguồn huy động trong tài sản. Nguyễn Văn Tiến (2009) cho rằng “rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp” Nguyễn Đăng Dờn (2010) đưa ra khái niệm “Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán” Alzoubi (2017) định nghĩa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng phát sinh từ sự không phù hợp giữa cầu thanh khoản và cung thanh khoản, theo hướng cung thanh khoản thấp hơn cầu thanh khoản. Các tác giả trong nước và trên thế giới thông qua nhiều nghiên cứu khác nhau đã đưa ra khái niệm về rủi ro thanh khoản, theo quan điểm của tác giả rủi ro thanh khoản là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó nó sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn. Nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản Theo Trương Quang Thông (2010), nguyên nhân của rủi ro thanh khoản được 8 phân tích từ các khoản mục thuộc tài sản, nguồn vốn của bảng cân đối kế toán: “Một là, bên phía nguồn vốn của bảng cân đối kế toán: Ngân hàng thiếu hụt ngân quỹ để đáp ứng các nhu cầu chi trả cho những người gửi tiền, hoặc thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn mà ngân hàng đã vay.
Các khoản huy động từ người gửi và từ bên cho vay là các khoản huy động ngắn hạn và nhu cầu rút vốn phát sinh phải được đáp ứng tức thời; trong khi đó, ngân hàng lại đầu tư nguồn vốn của mình vào các tài sản dài hạn và cũng có tính thanh khoản kém hơn nhằm tìm kiếm thu nhập lãi cao hơn. Thông thường, một ngân hàng luôn tính toán được một khoản vốn ổn định mà ngân hàng có thể sử dụng để đầu tư vào các tài sản trung dài hạn là các khoản ký thác lõi. Nguyên nhân thứ hai, từ phía tài sản của bảng cân đối kế toán: như là nhu cầu giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Khi ngân hàng đã cấp một hạn mức tín dụng cho khách hàng, thì khi khách hàng có nhu cầu phù hợp với hợp đồng tín dụng và lịch trình giải ngân thì ngân hàng phải đảm bảo thực hiện việc cấp vốn cho khách hàng.
Nguyên nhân thứ ba, ngân hàng thiếu hụt ngân quỹ để đáp ứng các nhu cầu của bên đối tác của ngân hàng như chủ nợ, đối tác. Các nguyên nhân khác như không có chiến lược và phương pháp quản trị thanh khoản phù hợp. Rủi ro thanh khoản cũng có thể xảy ra do những thay đổi của lãi suất thị trường. Và một nguyên nhân rất dễ xảy ra và rất nguy hiểm cho hệ thống tài chính ngân hàng của một nền kinh tế là hiệu ứng rút tiền dây chuyền trong những giai đoạn khủng hoảng và những biến cố chính trị - kinh tế khác.
Nguyên nhân này khiến việc nghiên cứu về rủi ro thanh khoản và quản trị thanh khoản có ý nghĩa quan trọng hơn với ý nghĩa của nó đối với các vấn đề thuộc nội bộ ngân hàng.” Bên cạnh đó, theo giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại của Trần Huy Hoàng (2011), các nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản ngân hàng có thể được chia thành các nhóm sau: 9 Nguyên nhân từ phía các NHTM: Thiếu ngân quỹ để đáp ứng các nhu cầu chi trả của ngân hàng: Nguyên nhân này xuất phát từ cả hai phía nguồn vốn và tài sản của ngân hàng. Về phía nguồn vốn của ngân hàng thể hiện việc không đủ tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu chi trả cho những người gửi tiền hoặc thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn mà ngân hàng đã vay dẫn đến rủi ro thanh khoản. Về phí tài sản của ngân hàng thể hiện việc thiếu ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu giải ngân cho các khoản tín dụng đã cam kết. Khi khách hàng muốn rút vốn theo nhu cầu và lịch đã thỏa thuận trước đó làm phát sinh nhu cầu thanh khoản.
Khi đó, ngân hàng phải sử dụng tiền mặt dự trữ, vay nợ bổ sung hoặc bán các tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của khách hàng. Sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn: Ngân hàng sử dụng các khoản tiền gửi ngắn hạn huy động được từ nhiều nguồn khác nhau để tài trợ cho việc đầu tư hoặc cho vay trung dài hạn. Chính vì vậy đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa thời gian đáo hạn của các khoản đầu tư, cho vay và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động, mà thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra để thanh toán các khoản lãi của tiền gửi khi đến hạn cũng như nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng. Sự thay đổi của lãi suất thị trường: Các khách hàng gửi tiền và vay vốn ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất thị trường.
Khi lãi suất thị trường tăng, những khách hàng gửi tiền có xu hướng rút tiền từ ngân hàng để đầu tư vào những kênh có tỷ suất sinh lợi cao hơn; đồng thời khách hàng đi vay sẽ tìm đến các tổ chức tín dụng có lãi suất cho vay thấp hơn và ngược lại. Có thể thấy, sự thay đổi lãi suất thị trường tác động đến cả khách hàng gửi tiền và vay vốn, dẫn đến việc ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng. Hơn nữa, những xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ Chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp: Ngân hàng có chiến lược và phương pháp quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả như các chứng khoán mà ngân hàng đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân 10 hàng không đủ nhu cầu chi trả. trong danh mục tài sản của mình, ngân hàng có phần đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu, trong đó quan trọng nhất là trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc.
Trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc mặc dù lãi suất không hấp dẫn nhưng nó lại là một nguồn cực kỳ quan trọng cho ngân hàng để nhận chiết khấu từ NHNN một khi thanh khoản có vấn đề. Các ngân hàng nhỏ với tiềm lực tài chính yếu kèm thì khó có thể cạnh tranh với các ngân hàng lớn hơn trong việc đấu thầu các loại tài sản trên. Vì vậy các ngân hàng thường lựa chọn những danh mục rủi ro cao với tỷ suất sinh lợi cao để đầu tư, khi rủi ro xảy ra ngân hàng không thể thu hồi các khoản nợ trong ngắn hạn dẫn đến việc thiếu thanh khoản và tạo nên rủi ro thanh khoản.