CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ THỰC TRẠNG CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 1. Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng 1. Các nhân tố từ phía ngân hàng Đây là những nhân tố thuộc về bản thân nội tại ngân hàng liên quan đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho khách hàng của ngân hàng bao gồm: - Mạng lưới hoạt động: Một ngân hàng nếu có tầm hoạt động rộng với nhiều chi nhánh điều đó sẽ giúp khách hàng tiếp cận dễ dàng hơn với ngân hàng, ngược lại. - Chính sách tín dụng: bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với một khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, phương thức cho vay, hướng giải quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn, xử lý các khoản vay có vấn đề.tất cả các yếu tố đó có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ đến việc mở rộng cho vay của Ngân hàng.
Nếu như tất cả những yếu tố thuộc chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng về vốn thì Ngân hàng đó sẽ thành công trong việc giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng tín dụng. Ngược lại, những yếu tố này bất hợp lý, cứng nhắc, không theo sát tình hình thực tế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tăng cường hoạt động cho vay của mình đồng thời gây khó khăn cho khách hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Ngân hàng càng đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp với từng loại khách hàng, từng kỳ hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn thì càng thu hút được khách hàng, thực tốt mục tiêu mở rộng hoạt động cho vay. Nhưng nếu lãi suất không phù hợp quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hút được nhiều khách hàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt động cho vay của Ngân hàng 8 - Tổ chức của ngân hàng: cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng giữa các cán bộ, nhân viên, các phòng ban trong ngân hàng, giữa các chi nhánh ngân hàng với nhau trong toàn bộ hệ thống cũng như với các cơ quan khác liên quan đảm bảo cho ngân hàng hoạt động nhịp nhàng, thống nhất có hiệu quả, qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu khách hàng.
- Thông tin tín dụng: là cơ sở cho quá trình thẩm định dự án là cơ sở cho quá trình phân tích, đánh giá của cán bộ thẩm định. Bên cạnh các thông tin do khách hàng cung cấp, khả năng tiếp cận, chủ động thu thập các nguồn thông tin khác và khả năng xử lý, sử dụng các thông tin của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo kết quả đánh giá khách hàng là chính xác. - Chất lượng nhân sự: gồm trình độ nghiệp vụ, khả năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ, vi tính, sự nhiệt tình trong công việc của cán bộ, maketing. Nếu như khách hàng giao tiếp với cán bộ ngân hàng mà họ cảm thấy yên tâm về trình độ nghiệp vụ của cán bộ thì chắc chắn họ sẽ tìm đến với ngân hàng đó.
- Công tác thẩm định: là khâu quan trọng nhất trong quá trình quyết định cho khách hàng vay vốn. Trong quá trình thẩm định đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có chuyên môn, có khả năng phán đoán thị trường và phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tín dụng để tránh gây rủi ro cho ngân hàng trong quá trình cho vay vốn. Các nhân tố về phía doanh nghiệp Bên cạnh nhân tố về phía ngân hàng thì một nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho khách hàng đó chính là bản thân khách hàng. Nhân tố này bao gồm rất nhiều các yếu tố, cụ thể: - Tài sản đảm bảo nguồn vốn vay của khách hàng: Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng là sự sẵn có của tài sản thế chấp.
Thông thường, các ngân hàng nhận thấy được hai vai trò của tài sản đảm bảo (TSĐB). Thứ nhất, nguồn trả nợ phụ giúp ngân hàng giảm thiểu tổn thất một khi khách hàng không còn đủ khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ. Thứ hai, giúp nâng cao thiện chí trả 9 nợ của khách hàng, ngăn chặn rủi ro đạo đức từ phía khách hàng vì nếu khách hàng không trả được nợ đồng nghĩa với việc bị mất đi TSĐB. Nhưng còn một vai trò khác nữa của TSĐB cũng rất hiệu quả trong việc giúp ngân hàng đánh giá, ‘sàng lọc’ ra những khách hàng tốt, chính là việc dựa vào thiện chí của khách hàng về việc có muốn tự nguyện đưa ra TSĐB cho khoản vay hay không.
- Tuổi công ty: thường được xem như là một tín hiệu cho khả năng tồn tại và chất lượng quản lý của công ty, cũng như sự tích lũy vốn danh tiếng (Diamond, 1991; Oliner và Rudebusch, 1992). Hơn nữa, sự sai lệnh về thông tin là tương đối nhỏ hơn đối với các công ty lâu năm vì hồ sơ theo dõi dài hơn của các công ty này (Petersen và Rajan, 1994; Cressy, 1996). Các công ty càng lâu đời càng có khả năng tiếp cận tín dụng nhiều hơn các công ty mới thành lập. - Quy mô công ty: các công ty nhỏ gặp khó khăn hơn trong thị trường tín dụng vì xác suất thất bại tương đối cao(Jensen và McGuckin, 1997), chi phí cố định trong việc vay vốn của các công ty nhỏ cao hơn (Symeonidis, 1996), và chi phí giám sát tương ứng cao hơn (Boocock và Woods, 1997).
Ngoài ra, các công ty nhỏ hơn có thể có tài sản thế chấp tương đối thấp hơn nên các trách nhiệm của họ khi có sự cố ít hơn nên họ có thể kinh doanh mạo hiểm hơn. - Thiết lập cơ hội đầu tư của công ty (đại diện bởi lợi nhuận, tăng trưởng doanh thu, và tăng trưởng tài sản cố định): cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng phân phối tín dụng (Hubbard, 1998). Cơ hội đầu tư càng nhiều thì khả năng tiếp cận tín dụng càng cao và ngược lại. - Lưu chuyển tiền tệ: Drakos & N.
Giannakopoulos (2011) cho rằng dòng tiền cao hơn phản ánh tính thanh khoản cao hơn là tín hiệu tốt để ngân hàng cho vay vì khả năng để đáp ứng thanh toán lãi suất cao hơn. - Sử dụng kiểm toán độc lập và áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế: làm tăng tính minh bạch của báo cáo tài chính. Dharan (1993) chỉ ra rằng ý kiến của kiểm toán viên được giả định là truyền đạt những đặc điểm rủi ro của công ty đến người cho vay. 10 Chi phí kiểm toán bên ngoài rất tốn kém nên các công ty lựa chọn để làm như vậy thực sự gửi một tín hiệu về chất lượng hoạt động của công ty đến ngân hàng cho vay.
Vì vậy nó sẽ làm tăng khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp. - Loại hình doanh nghiệp (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân…): là một yếu tố quyết định đến tiềm năng của phân phối tín dụng. Ví dụ các công ty tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn, do đó có khả năng áp dụng chiến lược đầu tư thận trọng hơn, cũng như giảm thiểu khả năng phá sản nên làm giảm rủi ro của người cho vay. - Mức độ tín nhiệm của công ty: việc đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng là một vấn đề khó khăn cho các ngân hàng khi mà các yêu cầu cơ bản của tiêu chí này là mối quan hệ dài hạn, uy tín, thương hiệu, trình độ năng lực quản lý của khách hàng…Các ngân hàng chủ yếu dựa vào lịch sử quan hệ của khách hàng với ngân hàng, còn với khách hàng mới thì việc đánh giá dựa vào ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng khi tiếp xúc với khách hàng bên cạnh các thông tin lấy được từ Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC).
Các công ty có mức độ tín nhiệm càng cao thì khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng càng lớn và ngược lại. - Tính hiệu quả của vốn vay: đây chính là phương án sử dụng vốn vay của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi nhuận trả nợ cho ngân hàng. Nếu dự án được đánh giá là tốt thì khả năng ngân hàng cho DN vay là cao và ngược lại. - Tính không đồng nhất ngành: các ngân hàng thường phân loại ngành để đánh giá chất lượng tín dụng vay, do đó nó cũng ảnh hưởng đáng kể đến quyết định cho vay của ngân hàng (Cole, 1998; Rajan và Zingales, 1998; Beck và Levine, 2002; Cowling và Mitchell, 2003).
- Duy trì tài khoản tiền gửi tại ngân hàng: đại diện cho mối quan hệ với ngân hàng làm tăng khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng. 11 - Giới tính của chủ sở hữu: có ảnh hưởng đến việc duyệt khoản vay là bao nhiêu hoặc mức lãi suất vay như thế nào (Cavaluzzo et al.,2002; Blancflower et al., 2003; Mijid and Bernasek, 2008) - Ngoài ra còn có một số nhân tố khác tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng như: công ty là thành viên của một hiệp hội kinh doanh, phòng thương mại, số lượng đối thủ cạnh tranh…. Các nhân tố khác - Môi trường kinh tế - xã hội: môi trường kinh tế xã hội thuận lợi cho sự phát triển tín dụng ngân hàng là có đông dân cư, thu nhập cao, trung tâm tài chính, thương mại, du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật…làm hoạt động tín dụng ngân hàng phát triển từ đó khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp được nâng cao. - Môi trường chính trị: Việt Nam có môi trường chính trị rất ổn định, đây là điều kiện hết sức thuận lợi, tạo tâm lý an tâm cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo sự an tâm cho người dân bỏ vốn kinh doanh.
Đó cũng là môi trường thuận lợi cho ngân hàng phát triển ổn định.