Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ 2. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 vụ. Theo Zeithaml và cộng sự (2002), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách 2 2 2 2 2 2 2 thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Theo Kotler và Armstrong 2 2 2 2 2 2 2 2 22 2 (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 dài với khách hàng. Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt,có nhiều đặc tính khác với các loại hàng 2 2 2 2 2 2 2 2 2 hoá khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 không thể cất trữ. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Tính vô hình: Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể 2 2 2 2 2 2 2 nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 được trước khi người ta mua chúng.
Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 mua sẽ tìm kiếm cácdấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ suy 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông 2 2 2 2 2 2 2 tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. Với lý do là vô hình nên công ty cảm thấy 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 khó khăn trong việc nhận thức như thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch 2 2 2 2 2 vụ (Robinson, 1999). 2 Tính không đồng nhất: Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ.
2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Đặc tính này thể hiện rõ nhất đối với các 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 8 dịch vụ bao hàm sức lao động cao. Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 nhân viên sẽ rất khó đảm bảo (Caruana và Pitt, 1997). Lý do là những gì công ty 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà người tiêu dùng nhận 2 2 2 được.
Tính không thể tách rời: Tính không tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 sử dụng. Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Điều này không đúng 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 đối với hàng hoá vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 nấc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Đối với sản phẩm hàng 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 hoá, kháchhàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịchvụ, 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Đối 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, ví dụ như chất lượng xảy ra trong 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 quá trình chuyển giao dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ (Svensson, 2 2 2 2 2 2 2 2 2002). Đối với những dịch vụ đòi hỏi phải có sự tham gia ý kiến của người tiêu 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 dùng như dịch vụ hớt tóc, khám chữa bệnh thì công ty dịch vụ ít thực hiện việc 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 kiểm soát, quản lý về chất lượng vì người tiêu dùng ảnh hưởng đến quá trình này. 2 2 2 2 2 2 Trong những trường hợp như vậy, ý kiến của khách hàng như mô tả kiểu tóc của 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 mình muốn hoặc bệnh nhân mô tả các triệu chứng cho các bác sĩ, sự tham gia ý 2 2 2 2 2 2 2 2 2 kiến của khách hàng trở nên quan trọng đối với chất lượng của hoạt động dịch vụ. 2 2 2 2 2 2 2 Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán 2 2 2 2 2 2 2 2 như hàng hoá khác.
Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 khi mà nhu cầu ổn định. Khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 khăn. Ví dụ như các công ty vận tải công cộng phải có nhiều phương tiện hơn gấp 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 bội so với sốlượng cần thiết theo nhu cầu bình thường trong suốt cả ngày để đảm 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 bảo phục vụ cho nhu cầu vào những giờ cao điểm. Chính vì vậy, dịch vụ là sản 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.
Chất lƣợng dịch vụ 2. Khái niệm về chất lượng dịch vụ 9 Chất lượng dịch vụ là một khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi trong các 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 tài liệu nghiên cứu bởi vì các nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong việc định 2 2 2 2 2 2 2 2 2 nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ mà không hề có sự thống nhất nào 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 (Wisniewski, 1996). Chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác 2 2 2 2 2 2 nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu. Chất lượng 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của 2 2 2 2 2 2 2 khách hàng (Lewis và Mitchell, 1990; Asubonteng và cộng sự, 1996; Wisniewski 2 2 2 2 và Donnelly, 1996).
Theo Edvardsson (1997) cho rằng chất lượng dịch vụ là dịch 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thoả mãn nhu cầu của họ. 2 2 2 2 2 2 2 2 2 Theo Parasuraman và cộng sự (1985, 1988), chất lượng dịch vụ là khoảng cách 2 2 giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 vụ. Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đo 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 lường chất lượng dịch vụ. Lấy ví dụ, Lehtinen (1991) cho là chất lượng dịch vụ 2 2 2 2 2 2 2 phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 quả của dịch vụ.
Theo Gronroos (1984) cũng đề nghị hai lĩnh vực của chất lượng 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 dịch vụ, đó là (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng. Parasuraman và 2 2 2 cộng sự (1985) đưa ra mô hình năm khoảng cách và năm thành phần chất lượng 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 dịch vụ, gọi tắt là SERVQUAL. 2 2 2 2 2 Theo Parasuraman (1985, 1988) chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự 2 2 2 2 2 2 2 2 mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ.