Chương 1: Cơ sở lý luận và thực thực tiễn của nghiên cứu. Các khái niệm công cụ. Người cham sóc là người thân trong gia đình bệnh nhân.5, Nhdin vién COng tac XA NGI n. Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu.
Lý thuyết nhu cầu của Abraham MÃ@$ÏOWW.- 5c ©sSseE‡EEE2E+EerEerxerxer 25 1. Ly thuyet Vi 70 7n ẽẽ ẽ e. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu. Tong quan đặc điểm địa bàn thành phố Hà Nội.
Tong quan đặc điểm bệnh viện đa khoa Đồng Da, Hà Nội.------ 30 Chương 2: Hoạt động và nhu cầu được hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân. Thực trạng hoạt động chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS của người chăm sóc 1. Đặc điểm của người chăm sóc bệnh nhÂÌ!. Công việc của người CHAI SOC.
cà n0 kg tr rry 37 2. Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động chăm sóc bệnh nhân của người chăm sóc gia đỉÌHh. - --cc cv tk KH TH TH HT HH.Thực trạng về nhu cầu được hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân 0À. Nhu cầu hỗ trợ tài chính và cơ sở vật Chất .----:©s+ssse+e+E+ESEt+E+EsEt+esrsrees 5S 2.
Nhu câu hỗ trợ tâm lý. Nhu cau nâng cao kiến thức về bệnh HIV và kỹ năng chăm sóc. Các nhụ câu khác.ccsc5xttEEtttÈ the 66 Chương 3: Công tác xã hội trong việc hỗ trợ nhu cầu của người chăm sóc bệnh 1008270) 5. Vai trò của nhân viên xã hội trong việc hỗ trợ nhu cầu của người chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS tại khoa truyền nhiễm Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, Hà NOD ee eee —.
Một số khuyến nghị về giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ người chăm sóc bệnh nhân HIV của Nhân viên xã hội.-- 2c SSccSsreeree2 72 KẾT LUẬN.1E1Eeree 78 TÀI LIEU THAM KHẢO.--- 22-52 2S 2E 2EE2E12EEE21121122127171211211 1121 xe 80 1000090. 84 DANH MỤC BANG Bang 2.1: Đặc điểm của người chăm sóc (%).---2-©52 2 t+EE£EE2E2EEeEEerxerrerred 32 Bảng 2.2: Nguồn cung cấp kiến thức về bệnh HIV/AIDS cho người chăm sóc (%) .3: Công việc của người chăm SOC (⁄4).- 5G n1 HH ngư, 38 Bảng 2.4: Những khó khăn của người chăm sóc gia đình (%).5: Nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc (%) .1: Mức độ hài lòng của người chăm sóc khi nhận được sự hỗ trợ như sau:. 73 DANH MỤC TỪ VIET TAT HIV: (Human Immunodeficiency Virus) Tên một loại virut gây suy giảm miễn dịch AIDS: (Aquired ImmunoDeficiency Syndrome) Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người — giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV ARV: (Anti-retroviral) Thuốc kháng virut HIV MỞ DAU 1. Lý do chọn đề tài Loài người đang phải đối mặt với HIV/AIDS, một đại dịch có sức tàn phá chưa từng thấy trong lịch sử.
HIV/AIDS là một nguy cơ lớn đối với loài người, đối với các quốc gia, đối với các dân tộc, đối với mỗi gia đình và đối với mỗi người, HIV/AIDS đang là hiểm hoa hàng đầu về việc gây ra chết choc, nghèo đói lạc lậu, ảnh hưởng đến nhiều thế hệ các quốc gia, dân tộc. Từ khi đại dịch xuất hiện, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đã có khoảng 78 triệu người nhiễm HIV trên thế giới, trong đó ước tính 50% đã tử vong. Tại Việt Nam, HIV/AIDS cũng đang là căn bệnh gây nhức nhối cho toàn xã hội. Tính đến tháng 6/2015, số người nhiễm HIV còn sống được báo cáo là khoảng 227.000 trường hợp với trung bình 12.000 ca nhiễm mới mỗi năm và đã có khoảng 75.000 người tử vong do AIDS được báo cáo, tính ra trung bình mỗi ngày nước ta có 20 người nhiễm HIV mới.
[2] Những người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS không ai khác chính là các bác sỹ, y tá, nhân viên y tế, một bộ phận không nhỏ người làm công tác xã hội, .và không thé thiếu sự chăm sóc của những người thân trong gia đình người bệnh. Những đối tượng này có nguy cơ bị phơi nhiễm HIV rất cao. Ông Hoàng Đình Cảnh, Phó Cục trưởng Cục Phòng chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), cho biết báo cáo người bị tai nạn rủi ro nghề nghiệp phơi nhiễm HIV trên toàn quốc (gồm 63 tỉnh thành và các bộ ngành) năm 2014 cho thấy có 951 người tập trung chủ yếu ở nhóm cán bộ y tế, công an, nhân viên xã hội.Trong số này, có 853 người được khám tư vấn có nguy cơ và được điều trị dự phòng bằng thuốc ARV [2]. Những nỗ lực của 19 y-bác sĩ ở Bệnh viện Phụ sản Hà Nội giúp bệnh nhân hồi sinh đã được ngành y tế động viên khen thưởng.
Nhưng sau vụ việc này, rất nhiều lo ngại và là một hồi chuông cảnh báo đối với su an toàn của những người chăm sóc bệnh nhân HIV. Tuy nhiên nhân viên y tế, nhân viên xã hội còn nhận được sự điều trị miễn phí khi họ làm việc có nguy cơ phơi nhiễm HIV hay bản thân họ đã được trang bị những kiến thức, kỹ năng chăm sóc người bệnh, còn những người chăm sóc gia đình bệnh nhân HIV thì hoàn toàn không. Người chăm sóc gia đình là người chăm sóc bệnh nhân hàng ngày va bên cạnh bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị bệnh nhưng họ chưa nhận được sự quan tâm của cộng đồng xã hội. Thực tế cho thấy, người chăm sóc gia đình gặp rất nhiều khó khăn: vấn đề kinh tế, thời gian, kiến thức, kỹ năng, nguy cơ lây nhiễm.
đặc biệt là những khó khăn về tâm lý. Họ không những lo lắng, căng thăng, đau xót, mặc cảm mà họ còn gặp phải sự kỳ thị, xa lãnh của xã hội. Đây là đối tượng cần được sự quan tâm, trợ giúp của cộng đồng nói chung và của các lĩnh vực chuyên môn trong đó có Công tác xã hội. Trợ giúp người chăm sóc đáp ứng nhu cầu chính là gián tiếp tác động tích cực đến quá trình điều trị của bệnh nhân.
Cho đến nay ở Việt Nam chưa có đề tài nào nghiên cứu về nhu cầu của người chăm sóc gia đình bệnh nhân HIV/AIDS. Các nghiên cứu chỉ đề cập đến nhu cầu, khó khăn của người chăm sóc là các nhân viên y tế và đưa ra các hỗ trợ, can thiệp mang tính chuyên môn Công tác xã hội. Xuất phát từ thực tế trên, nhằm giúp đỡ những người chăm sóc gia đình bệnh nhân HIV/AIDS đáp ứng những nhu cầu nảy sinh trong quá trình chăm sóc người bệnh, đồng thời cung cấp cho họ những kiến thức, kĩ năng dé họ tăng năng lực ứng phó trước những van đề họ gặp phải, chi ra vai trò và nhiệm vụ của Nhân viên Công tác xã hội trong bệnh viện. Tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nhu câu được hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS (Nghiên cứu trường hợp người chăm sóc tại Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Da khoa Đống Da, Hà Noi)”.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong nhiều năm nay đã có nhiều nghiên cứu về bệnh HIV/AIDS và cách chăm sóc người bệnh HIV/AIDS, trong đó bao gồm cả các nghiên cứu liên quan đến người chăm sóc bệnh nhân. Đây là vấn đề thu hút nhiều nhà nghiên cứu từ các lĩnh vực với các cách nhìn khác nhau. Mỗi ngành nghề lại nghiên cứu những chủ đề, hướng tiếp cận, phương pháp nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên mục đích chung của các nghiên cứu này là nhằm giúp cho bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân giảm thiểu được tối đa những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình đấu tranh chống lại căn bệnh thế kỷ.
Các nghiên cứu đối tượng người chăm sóc là nhân viên y tế Nhân viên y tế là những người hàng ngày chăm sóc, điều trị cho các bệnh nhân HIV/AIDS, điều đó cũng có nghĩa là hàng ngày họ sẽ phải đối mặt với các rủi ro, tai nạn lây nhiễm từ bệnh nhân. Dù đã có nhiều chế độ bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp nhưng có lẽ điều đó vẫn ít ỏi so với những vất vả, nguy hiểm mà các nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS. Bàn về vấn đề này, có khá nhiều nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước về chăm sóc bệnh nhân HIV, đối tượng người chăm sóc là nhân viên y tế. Các nghiên cứu đề cập đến vai trò, nhu cầu, khó khăn, thách thức mà họ gặp phải trong quá trình chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS.
Nghiên cứu của nhóm tác giả, Sagoe-Moses C, Pearson RD, Perry J, Jagger J:(8/2014), Rui ro đối với nhân viên y té ở các nước dang phát triển, cũng đề cập đến những rủi ro mà nhân viên y tế gặp phải khi chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS, họ không những có nguy cơ lây nhiễm mà tâm lý lúc nào cũng lo sợ. Ở các nước dang phát triển thì các rủi ro nhiều hơn do họ còn ít được trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ và thực hành. Số nhân viên y tế ở các nước đang phát triển phải điều trị phơi nhiễm nhiều hơn và chế độ phụ cấp rủi ro nghề nghiệp của họ cũng thấp hơn các nước phát triển. [35] Nhiễm với HIV là một rủi ro nghề nghiệp cho nhân viên y tế, đặc biệt là các bác sĩ, trong khi điều trị của bệnh nhân.
Do vậy công tác dự phòng sau phơi nhiễm HIV (PEP) là có hiệu quả trong việc ngăn ngừa lây nhiễm HIV tiềm năng sau tai nạn. Nghiên cứu của nhóm tác giả, Ekundayo, Ogbaini (2004): “Kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên y tế trong dự phòng phơi nhiễm sau lây nhiễm HIV/AIDS, trong bệnh viện Đại hoc Benin city - Nigeria”, đăng trên tạp chíQuốc tế về Nghiên cứu Cộng đồng. Mục tiêu của nghiên cứu này là để đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành sau phơi nhiễm HIV. Nghiên cứu được tiễn hành trên 187 bác sỹ, kết quả cho thấy đa số (66%) số người được hỏi có kiến thức tốt về HIV- PEP.
95% được khuyên HIV-PEP, 85% cho biết họ sẽ đưa PEP nếu vô tình tiếp xúc nguy cơ lây nhiễm. 47,4% số người được hỏi đã tiếp xúc với PEP. Lý do không dùng PEP gồm thiếu thông tin về các chính sách về HIV-PEP và sợ sự kỳ thị. Nghiên cứu đã đưa ra đề xuất cần nâng cao kiến thức cho nhân viên y tế trong việc chăm sóc cho bệnh nhân HIV/AIDS, đặc biệt là dự phòng phơi nhiễm.
[30] Những vấn đề kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS đã xuất hiện từ giữa những năm 1980 và đến nay hơn hai thập kỷ đã trôi qua, xã hội vẫn còn tiếp tục kỳ thị những ai bi nhiễm hoặc nghi ngờ bị nhiễm, thậm chí cả những người có liên quan đến HIV/AIDS. Điều dưỡng là những người gần gũi để chăm sóc cho những người mắc căn bệnh này, nhưng chính họ cũng không thoát khỏi sự phân biệt đối xử của xã hội.