CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT THĂNG BÌNH, QUẢNG NAM VÀ NHO SĨ THĂNG BÌNH TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN 1. Khái quát về vùng đất và con người Thăng Bình 1. Điều kiện tự nhiên Thăng Bình là một huyện phía Đông tỉnh Quảng Nam, huyện lỵ là thị trấn Hà Lam. Phía bắc giáp huyện Quế Sơn và Duy Xuyên, phía nam giáp huyện Phú Ninh và thành phố Tam Kỳ, phía tây giáp huyện Hiệp Đức, Tiên Phước, phía đông giáp biển Đông.
Thăng Bình ở toạ độ 15030’ đến 15059’ vĩ độ Bắc và từ 10807’ đến 108030’ kinh độ Đông. Địa hình huyện thấp dần từ tây sang đông, hình thành nên các dạng địa hình của tỉnh Quảng Nam: miền núi; vùng đồng bằng trung du bán sơn địa và vùng ven biển. Vùng đất phía Tây gồm các xã Bình Lãnh, Bình Trị, Bình Định, Bình Phú, Bình Quế., có địa hình đồi núi và bán sơn địa, có độ dốc lớn, đất đai bạc màu hoặc bị laterit hóa. Đây là nơi tập trung các ngọn núi của huyện Thăng Bình như: La Vang (nay là Chóp Chài), La Nga, Cẩm Yên, Hà Lam, Chử Dương, Xuân Mỹ, Gia Phúc, An Thái, Khánh Sơn, Lâm Phu, … có hướng chủ yếu là tây đông, độ cao trung bình khoảng 500 m.
Quốc Sử quán triều Nguyễn đã ghi chép rất tỉ mỉ các ngọn núi này trong Đại Nam nhất thống chí như sau: “Núi La Vang: ở cách huyện Lễ Dương 24 dặm về phía Tây, tục gọi núi Chóp Chài. Phía Tây Bắc có nhiều ngọn núi, đầu ngọn này cao hơn cả, gọi là chợ Gò Mi. Núi Cẩm Yên: ở phía Tây huyện Lễ Dương, thế núi dăng dài, cây cối xanh tốt, quanh núi có dân cư. Núi Hà Lam: ở cách huyện Lễ Dương một dặm về phía Tây.
Núi Chử Dương: An Nam chí chép là địa phận huyện Lê Giang, nay là huyện Lễ Dương, tên núi ngày nay không rõ. 6 Luan van Núi Xuân Mỹ: ở cách huyện Lễ Dương 8 dặm về phía Tây, phía Đông là núi Bình Yên, núi Phú, phía Tây Bắc là núi Xuân Sơn. Núi Gia Phúc: ở cách huyện Lễ Dương 13 dặm về phía tây nam, thế núi chạy dài, gần đấy có núi Phượng Sơn, núi Đồ Sơn, núi An Tây, núi Tây Mỹ và núi Ân Xá. Núi An Thái: ở cách huyện Lễ Dương 23 dặm về phía nam, giữa cánh đồng cát nổi vọt lên, thế núi cao vót, cây cối um tùm.
Núi Khánh Sơn: ở cách huyện Lễ Dương 23 dặm về phía nam, giữa cánh đồng cát nổi vọt lên, thế núi cao vót, trên núi có chùa gọi là chùa Khánh Sơn, gần đấy có núi Ấn, núi Cấm và núi Quy. Núi Lâm Phu: ở cách huyện Lễ Dương 11 dặm về phía tây, thế núi dăng dài, cây cối xanh tốt, phía đông bắc có khe chảy về phía tây, đổ vào sông Thu Bồn, có chợ gọi là chợ Đồng Tranh, phía tây gần đấy có núi Phú Bình và núi Trung An” [9, tr. Ngoài phần núi, địa hình đồi gò thấp (cao trung bình 200m) chiếm phần lớn diện tích còn lại của khu vực này. Nhưng đất ở đây dễ bị rữa trôi, bạc màu, laterit hóa, thường tập trung các loại cây như rang, sim, mua….
Xen giữa các hệ thống gò đồi là những cánh đồng chân núi nhỏ hẹp và là nơi tập trung các thôn xóm. Người dân tiến hành canh tác lúa nước, nhưng mỗi năm chỉ một vụ lúa do khó khăn về nguồn nước tưới. Những năm gần đây nhờ các công trình thủy lợi nên nâng lên 2 vụ nhưng năng suất vẫn còn thấp do đất đai kém màu mỡ. Với một loại rừng nhiệt đới xanh bốn mùa, cây cối tươi tốt, um tùm biến rừng ở đây không chỉ là lá phổi xanh chen chắn, bảo vệ người dân trong vùng, mà trở thành chiến khu, căn cứ địa trong những năm chống Pháp; đồng thời trở thành nơi đóng quân, dừng chân của cán bộ, bộ đội trong kháng chiến chống Mỹ.
Phía Đông giáp biển Đông, có chiều dài 25 km, thấp phẳng, phần lớn là cát trắng, nhiều cồn cát, bãi biển đẹp. Phía bên trong những dãi cồn rộng lớn này bao giờ cũng có những đầm hồ dài và hẹp, nguyên là di tích những vụng biển cũ. Từ những dải cồn cát đi về phía nam, những đầm hồ được cải tạo và nối lại thành con đường giao thông thủy nội địa. Nhờ những bàu, hồ, sông mà người dân đến định cư, tạo nên những làng mạc đông đúc, đặc biệt là những làng nghề chài lưới, đánh cá, 7 Luan van vừa ở biển, nuôi trồng thủy sản.
Mô tả sinh hoạt của Xứ Quảng Nam, Dương Văn An thời nhà Mạc có chép: “. biển thì cá, muối là kho vô tận… của thổ ngơi đã sẵn thứ rượu tăm rất ngon. Hải vị sơn hào của nhiều chan chứa. Cá tôm sẵn ở sông bể, gỗ lấy ở núi rừng.
Xóm làng trù mật, nên gà, chó từng đàn; cỏ, nước ngon lành nên trâu bò béo tốt. Sông hồ lầy lội, đi thuyền tiện hơn đi chân; đất cát phì nhiêu, được thóc không cần khó nhọc. Đồng bằng Thăng Bình trải ra hai bên quốc lộ, là vùng đất phù sa tương đối màu mỡ, nhất là khu vực phía nam của huyện (tương ứng với các xã Bình Nguyên, Bình Tú, Bình Trung, Bình An… ngày nay). Trong đó, một diện tích đáng kể đã được khai thác sớm từ thời Champa, trước khi có người Việt đến định cư.
Dải đất phù sa này do sông Thu Bồn và các nhánh của nó đã bồi nên, không chỉ hình thành nên đồng bằng Thăng Bình mà còn tạo nên một chuỗi đồng bằng lớn nhỏ của vùng đồng bằng Quảng Nam - Đà Nẵng, nối tiếp nhau chạy dọc đến tận cửa sông Hội An, nằm dịch về phía biển. Trong đó, vùng đồng bằng rộng Quảng Nam - Đà Nẵng bị thu hẹp tại huyện Thăng Bình, trước khi mở rộng ra ở vùng đồng bằng lân cận (Tam Kỳ). Trong Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng có đề cập đến các đồng bằng lớn nhỏ này: “Đồng bằng Quảng Nam - Đà Nẵng là một vụng biển cũ (trong thực tế là một đới địa máng cũ) cắm sâu vào giữa hai khối nối Hải Vân và Ngọc Linh như một cái nêm lớn. Sau khi nước biển rút, do vận động nâng lên của Trường Sơn, sông Thu Bồn và các nhánh sông của nó đã bồi nên một vùng đất rộng 540 km 2 , diện tích này bao gồm cả vùng cửa sông Hội An, nằm dịch về phía biển.
Đồng bằng này thu hẹp lại ơ huyện Thăng Bình, rồi mở rộng ra - tuy vẫn giữ một dạng dải đất phù sa chạy dọc theo sông Tam Kỳ - ở đồng bằng cũng mang tên ấy rộng 510km2. Đây là vùng tập trung dân cư sớm nhất và đông nhất qua nhiều thế kỷ” [6, tr. Về giao thông, sông Ly Ly và sông Trường Giang là hai điểm giao thông cầu nối giữa các địa phương trong và ngoài huyện, trước khi có tuyến đường bộ. Theo sách Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng: “Sông Ly Ly, dân gian thường gọi là sông Rù Rì, do dọc theo bờ biển và trên những bãi bồi giữ sông có nhiều cây rù rì mọc, một loại thảo mộc cao từ một đến ba mét, đặc biệt có bộ rễ rất khỏe, cắm sâu trong lòng đất.
Cây Rù Rì ngập chìm trong nước nhiều ngày vẫn không chết. Sông Ly Ly có lưu vực rộng 200 km2, dài khoảng 40 km, bắt nguồn từ núi Chom, nằm 8 Luan van giữa Quế Sơn và Hiệp Đức và Hòn Tàu (Đại Nam nhất thống chí gọi là Tào Sơn) chảy trên đất Quảng Nam theo hướng Tây Nam đến Đông Bắc, nhập vào sông Bà Rén tại thôn Phú Trung (xã Duy Thành). Vào mùa lũ sông này mới có nhiều nước, còn mùa khô thì rất ít nước, có khi chỉ không đầy 1 m3 /s, nguyên do phần lớn bên dưới là tầng đá gốc, nên nước ngầm rất ít. Hiện nay, ở phía Thượng nguồn hồ chứa nước Việt An trên Khe Lâu đã được xây dựng, với dung tích gần 30 triệu m 3 khối.
Hồ này cung cấp nước tưới cho vùng Thăng Bình và Quế Sơn, nhờ đó dòng chảy của sông Ly Ly vào mùa khô có thể tăng lên” [6, tr. Hiên nay, sông Ly Ly bắt nguồn từ núi Hòn Tàu (Quế Sơn) chạy dọc ven phía Bắc của huyện qua các xã Bình Lãnh, Bình Trị, Bình Định Bắc và Bình Quý rồi xuôi dần ra Cửa Đại (Hội An). Cùng với đó, hồ Việt An được đưa vào sử dụng, nhằm phục vụ tưới tiêu nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Thăng Bình và địa phương lân cận (Quế Sơn). Sông Trường Giang chạy dọc tuyến ven biển, sông có chiều dài khoảng 60 km, nối hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn ở phía bắc với hạ lưu hệ thống sông Tam Kỳ - An Tân ở phía nam.
Nguồn nước của Trường Giang được thu nhận từ hai hệ thống sông này. Trường Giang không có đầu nguồn, chạy song song với bờ biển theo chiều bắc - nam, được ngăn cách với biển bởi dải cồn cát rộng lớn, tạo thành con đường giao thông thủy nội địa cho ghe thuyền đi lại. Nói về sông này, “sách Đại Nam nhất thống chí (bản thời Duy Tân) gọi là sông Phước Toàn nằm ở phía Đông huyện Lễ Dương, từ hạ lưu Sài giang (sông Chợ Cũi) chảy đến cửa biển Đại An (cửa An Hòa), ghe thuyền vẫn lưu thông được” [6, tr. Trường Giang có vị trí cầu nối quan trọng, giữ vai trò huyết mạch giao thông của xứ Quảng.
Khi chưa có quốc lộ 1A và con đường sắt, thì việc vận chuyển hàng hóa và cả hành khách từ phía nam Tam Kỳ ra Hội An do sông Trường Giang đảm nhiệm. Các hàng lâm thổ sản từ Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn được đưa về tận Tam Kỳ, hay Chợ Được bằng đường bộ, sau đó đưa xuống thuyền chuyển tiếp về Hội An hay ra Đà Nẵng. Trường Giang thông thương cả trăm chợ và các điểm buôn bán ven các sông xứ Quảng. Vì vậy, dọc theo hai bên bờ sông Trường Giang, nhiều chợ được mọc lên từ rất sớm như chợ Bà, chợ Lạc Câu, chợ Được, chợ Tam Ấp, chợ Tây Giang, chợ Bến Đá, chợ Bàn Thạch… Hơn nữa, sông này chịu sự tác động của thủy triều ở hai đầu là Cửa Đại ở phía Bắc và cửa An Hòa ở phía nam, nên cá tôm nước lợ trên sông này 9 Luan van rất ngon.
Hiện nay, sông Trường Giang chảy qua các xã Bình Dương, Bình Giang, Bình Đào, Bình Triều, Bình Sa, Bình Hải, Bình Nam rồi đổ ra cửa An Hòa (Núi Thành) và Cửa Đại (Hội An), góp phần thúc đẩy giao lưu đường thủy của các xã ven biển.