Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Chương 4: Thảo luận và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị.
6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Tổng quan về cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm và đặc trưng ngân hàng thương mại Thuật ngữ “ngân hàng” từ khi ra đời vào thế kỷ 15 đến nay đã có nhiều sự thay đổi theo không gian và thời gian. Lúc mới hình thành, ngân hàng được dùng để chỉ các tổ chức chuyên thu nhận tiền gửi và sử dụng tiền này để cho vay.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thế giới chuyển sang sử dụng thuật ngữ “định chế tài chính” có phạm vi bao quát hơn để thay thế khi từ “ngân hàng” vốn không nói lên hết ý nghĩa. Định chế tài chính được hiểu là một doanh nghiệp mà tài sản chủ yếu là các tài sản tài chính/ các hình thức trái quyền như cổ phiếu, trái phiếu, các khoản cho vay … Định chế tài chính được phân làm hai loại: trung gian tài chính và các định chế tài chính khác. Trong các loại hình của trung gian tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ tín dụng …), ngân hàng là quan trọng nhất (Bùi Diệu Anh, 2013). Hệ thống ngân hàng trung gian gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển và ngân hàng với mục đích xã hội.
Ngân hàng thương mại là hình thái ngân hàng ra đời sớm nhất, hoạt động bao gồm nhiều nghiệp vụ và dịch vụ, nhưng nhìn chung chủ yếu là nhận tiền gửi của công chúng và thực hiện nghiệp vụ, cho vay, chiết khấu, kinh doanh tiền tệ và các hoạt động khác. Theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, tại mục 3 điều 4 nêu rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Như vậy, qua các khái niệm trên, NHTM là một loại hình doanh nghiệp, mang những đặc trưng của doanh nghiệp, mục đích ra đời là để kinh doanh tìm 7 kiếm lợi nhuận. Ngân hàng thương mại là bộ phận quan trọng nhất trong các định chế tài chính trung gian xuất phát từ ba chức năng chính là quản lý tiền gửi, trung gian thanh toán và trung gian tín dụng. Ngân hàng có cơ cấu tổ chức, phải tự chủ về tài chính và thực hiện nghĩa vụ đóng thuế như bất kì một doanh nghiệp nào.
Tuy vậy, ngân hàng nói chung và NHTM nói riêng lại mang màu sắc riêng của mình. Thứ nhất, lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, một lĩnh vực đặc biệt liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành trong nền kinh tế, đồng thời cũng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, cần sự thận trọng trong điều hành hoạt động để tránh những thiệt hại cho kinh tế, xã hội. Ngoài ra, tiền tệ là công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý kinh tế vĩ mô, tác động trực tiếp đến sự hưng thịnh của nền kinh tế vì thế luôn được kiểm soát chặt chẽ. Thứ hai, nguồn vốn chủ yếu ngân hàng sử dụng trong hoạt động kinh doanh của mình là vốn huy động, vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh.
Về tài sản, tài sản hữu hình chiếm tỷ trọng thấp, chủ yếu là tài sản vô hình dưới dạng tài sản tài chính (kỳ phiếu, cổ phiếu, hợp đồng tín dung, các loại giấy tờ có giá khác. Thứ ba, như đã đề cập, hoạt động kinh doanh NHTM chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương (NHTW). Cụ thể, khi NHTW áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, NHTM rất khó mở rộng hoạt động kinh doanh, và ngược lại khi NHTW áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ. Cuối cùng, với tính chất trung gian trong hoạt động, NHTM là một mắc xích quan trọng của toàn bộ nền kinh tế, là nhịp cầu nối giữa chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếu vốn.
Khái niệm cơ cấu vốn ngân hàng thương mại Cơ cấu vốn hay cấu trúc vốn (capital structure) phản ánh mối quan hệ kết hợp giữa các nguồn tài trợ khác nhau cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thường nhắc đến mối quan hệ giữa nợ và vốn sở hữu tài trợ cho tài sản được đầu tư. Mặt khác, tài sản của một ngân hàng được hình thành trên cơ sở hoạt động sử dụng vốn tích lũy, nguồn mang lại thu nhập cho các cổ đông, thanh toán các khoản lãi tiền gửi và trả lương cho nhân viên của ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại 2. Vốn chủ sở hữu Vốn tự có hay vốn chủ sở hữu, về khía cạnh kinh tế, là vốn do chủ sở hữu đóng góp và lợi nhuận được tích lũy trong quá trình kinh doanh (Hồ Diệu, 2002).
Về khía cạnh quản trị ngân hàng, thì vốn tự có của ngân hàng bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2 dựa theo Hiệp ước vốn Basel II. Đây là chuẩn mực quản trị rủi ro ngân hàng được áp dụng hầu hết tại các quốc gia trên thế giới, và tại Việt Nam, Basel II từ cách đây hơn 10 năm đã được xác định là một trong những trọng tâm của ngành ngân hàng. Chuẩn mực Basel II với mục tiêu nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một "sân chơi" bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt trong quản lý rủi ro, là giải pháp tối ưu để các NHTM trụ vững trước những biến động khó lường của thị trường tài chính. Các ngân hàng trên thế giới đã áp dụng chuẩn mực này từ 13 năm trước, nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, các nước trong Liên minh Châu Âu đã áp dụng Basel III.
Còn tại Việt Nam, số ngân hàng được Thống đốc NHNN ban hành định chấp thuận triển khai áp dụng Thông tư 41 về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tính theo Basel II chỉ đạt ở con số 18 ngân hàng tính đến đầu năm 2020. Vốn cấp 1 (Tier 1 capital hoặc core capital): theo định nghĩa của Basel là thước đo đánh giá sức mạnh, tiềm lực tài chính của các ngân hàng. Vốn này sẽ gồm các khoản mục có độ tin cậy và tính thanh khoản tốt nhất: cổ phiếu thường, lợi 9 nhuận giữ lại, cổ phiếu ưu đãi không tích lũy, thu nhập từ công ty con. Các quốc gia khác nhau sẽ có các quy định cụ thể riêng về cách tính vốn cấp 1, cụ thể tại Việt Nam, để tiến tới chuẩn Basel II, thì các ngân hàng sẽ phải tính tỷ lệ an toàn vốn, trong đó có vốn cấp 1, cấp 2 theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN.
Vốn cấp 2 (Tier 2 capital hay supplementary capital): đây vẫn là thước đo tiềm lực tài chính của ngân hàng, tuy nhiên các khoản mục tài chính sẽ có độ tin cậy và an toàn thấp hơn cấp 1, xét trên quan điểm của cơ quản lý ngành ngân hàng, ở đây là NHNN. Vốn cấp 2 bao gồm dự phòng tổn thất cho vay và cho thuê, cổ phiếu ưu đãi tích lũy, tín phiếu vốn, các công cụ nợ dài hạn đủ điều kiện tính vào vốn tự có. Nguồn vốn huy động: Dưới góc độ quản trị NHTM, nguồn vốn huy động được chia thành nguồn vốn bị động và nguồn vốn chủ động, đây chính là nguồn nợ của ngân hàng. Nguồn vốn bị động: Nguồn vốn bị động của ngân hàng được cấu thành từ: (i) Tiền gửi giao dịch, chủ yếu là tiền gửi thanh toán, đây là loại tiền gửi không định rõ kỳ hạn và được gửi vào với mục đích thanh toán, ngân hàng có trách nhiệm chi trả bất kỳ lúc nào khi khách hàng có yêu cầu.
Như vậy, ở trường hợp này, ngân hàng bị động trong việc sử dụng nguồn vốn này. Trong nền kinh tế ổn định, nhu cầu thanh toán dân cư ổn định, vì thế ngân hàng có số dư tương đối ổn định với loại tiền gửi không kỳ hạn này. Từ đó, nhà quản trị ngân hàng sẽ xem xét sử dụng một tỉ lệ % nhất định để cho vay. Tuy nhiên, nhà quản trị cần cân nhắc kĩ phòng ngừa tình huống nền kinh tế bất ổn, người dân rút tiền ồ ạt.
Tỷ lệ % được sử dụng tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh của ngân hàng và chắc chắn phải chấp hành theo tỉ lệ quy định của pháp luật hàng (Lê Thị Tuyết Hoa và các tác giả khác, 2017). 1 (ii) Tiền gửi phi giao dịch đề cập đến các khoản tiền gửi có kỳ hạn. Với loại tiền gửi này thì chỉ đến khi đáo hạn khách hàng mới được rút. Về mặt quản trị, ngân hàng sẽ chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn này, đó chính là lý do lãi suất của tiền gửi kỳ hạn cao hơn tiền gửi không kỳ hạn.
Thực tế khi rút trước hạn, khách hàng vẫn được rút tuy nhiên sẽ mất đi một khoản tiền lãi, như là chi phí cho việc rút trước hạn. Nguồn vốn huy động giữ vai trò rất quan trọng đối với NHTM, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn, vì hoạt động chính của NHTM là huy động vốn để cho vay. Chính nhờ nguồn vốn này ngân hàng mới có thể thực hiện các hoạt động cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác. Bất kì ngân hàng cũng đều muốn gia tăng nguồn vốn này, tuy nhiên cần căn cứ vào mục đích gửi tiền để đưa ra giải pháp.
Với các khách hàng gửi tiền để thực hiện thanh toán, họ chú trọng đến những tiện ích ngân hàng mang lại hơn là lãi suất họ được nhận. Vì vậy, họ sẽ lựa chọn những ngân hàng có mạng lưới thanh toán tốt, áp dụng nhiều công nghệ hiện đại để rút ngắn thời gian thực hiện giao dịch. Với mục đích sinh lời, khách hàng gửi tiết kiệm sẽ lựa chọn ngân hàng đưa ra lãi suất hấp dẫn hơn, đồng thời ngân hàng đó có uy tín tốt để đảm bảo an toàn cho số tiền của họ (Lê Thị Tuyết Hoa và các tác giả khác, 2017). Nguồn vốn chủ động: (i) Phát hành các công cụ nợ: NHTM có thể huy động vốn bằng việc phát hành các công cụ nợ như kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi.
Đối với nguồn vốn này, ngân hàng hoàn toàn chủ động trong việc huy động của mình. Đặc điểm của loại vốn này là tính thanh khoản cao và thường được các NHTM trả mức lãi suất hấp dẫn.