Luận án TS: Nhân tố ảnh hưởng thời gian kiểm toán BCTC Việt Nam - Nguyễn Thị Thanh Mai

Phân tích chuyên sâu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam. Bài viết cung cấp cái nhìn toàn diện về các yếu tố tác động

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

216
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố ảnh hưởng thời gian kiểm toán BCTC tại Việt Nam

Thời gian kiểm toán báo cáo tài chính là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam. Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến thời gian kiểm toán BCTC thu hút sự quan tâm lớn từ học giả và người làm nghề. Thời gian kiểm đoan BCTC được hiểu là khoảng thời gian từ ngày bắt đầu thực hiện cuộc kiểm toán đến ngày phát hành báo cáo kiểm toán. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thời gian này, bao gồm đặc điểm khách hàng, đặc điểm công ty kiểm toán và rủi ro kiểm toán. Lý thuyết người đại diện giải thích nhu cầu kiểm toán độc lập khi xảy ra tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp. Lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực nhấn mạnh vai trò nguồn lực nội bộ công ty kiểm toán trong việc quyết định thời gian thực hiện. Tại Việt Nam, thị trường kiểm toán đang phát triển mạnh với sự tham gia của nhiều công ty kiểm toán trong nước và quốc tế. Việc hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng giúp tối ưu hóa quy trình kiểm toán, nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp.

1.1. Khái niệm thời gian kiểm toán báo cáo tài chính

Thời gian kiểm toán BCTC được đo lường bằng số ngày hoặc số giờ cần thiết để hoàn thành một cuộc kiểm toán độc lập. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ phức tạp của cuộc kiểm toán và năng lực thực hiện của công ty kiểm toán. Thời gian kiểm toán ngắn thường gắn liền với hiệu quả cao và quy trình chuẩn hóa tốt. Ngược lại, thời gian kéo dài có thể do nhiều nguyên nhân như rủi ro kiểm toán lớn, hệ thống kế toán phức tạp hoặc thiếu hụt nhân lực chuyên môn. Tại Việt Nam, thời gian kiểm toán trung bình thường dao động từ 30 đến 90 ngày tùy theo quy mô và ngành nghề kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.

1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Về mặt lý luận, nghiên cứu giúp bổ sung kiến thức về mối quan hệ giữa đặc điểm khách hàng, công ty kiểm toán và thời gian thực hiện. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu hỗ trợ các công ty kiểm toán trong việc lập kế hoạch kiểm toán hiệu quả, phân bổ nguồn lực hợp lý và kiểm soát chi phí. Doanh nghiệp được kiểm toán cũng benefit từ việc hiểu rõ quy trình, từ đó chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và giảm thiểu thời gian chờ đợi. Đặc biệt, cơ quan quản lý nhà nước có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để hoàn thiện quy định pháp lý về kiểm toán.

II. Phân tích các nhân tố chính ảnh hưởng thời gian kiểm toán

Các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC được phân thành ba nhóm chính dựa trên các lý thuyết đương đại. Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng bao gồm quy mô doanh nghiệp, mức độ phức tạp nghiệp vụ, chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ và tình hình tài chính. Doanh nghiệp có quy mô lớn thường đòi hỏi thời gian kiểm toán dài hơn do khối lượng giao dịch nhiều và phạm vi kiểm toán rộng. Nhóm nhân tố thuộc về công ty kiểm toán bao gồm quy mô công ty, thương hiệu Big4, kinh nghiệm kiểm toán viên và số lượng nhân sự. Công ty kiểm toán lớn với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm có khả năng thực hiện kiểm toán nhanh chóng hơn. Nhóm nhân tố rủi ro kiểm toán bao gồm rủi ro có sai sót trọng yếu, chất lượng các khoản dồn tích và tình trạng hoạt động liên tục. Khi rủi ro kiểm toán cao, kiểm toán viên phải mở rộng phạm vi thử nghiệm, dẫn đến thời gian kiểm toán kéo dài.

2.1. Nhân tố thuộc về đặc điểm khách hàng được kiểm toán

Đặc điểm khách hàng là nhóm nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến thời gian kiểm toán BCTC. Quy mô doanh nghiệp, đo lường bằng tổng tài sản hoặc doanh thu, tỷ lệ thuận với thời gian kiểm toán. Doanh nghiệp có hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém đòi hỏi kiểm toán viên phải thực hiện thêm nhiều thủ tục thử nghiệm bổ sung. Tình hình tài chính bất ổn, thể hiện qua các chỉ số như nợ phải thu quá hạn, hàng tồn kho luân chuyển chậm, cũng làm tăng thời gian kiểm toán. Mức độ phức tạp nghiệp vụ kế toán như giao dịch liên kết, đầu tư nước ngoài hay hợp nhất báo cáo tài chính cũng là nhân tố quan trọng cần được xem xét trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán.

2.2. Nhân tố thuộc về đặc điểm công ty kiểm toán

Đặc điểm công ty kiểm toán đóng vai trò quyết định đến thời gian thực hiện cuộc kiểm toán. Công ty kiểm toán thuộc nhóm Big4 thường có thời gian kiểm toán ngắn hơn nhờ quy trình chuẩn hóa và hệ thống phương pháp luận tiên tiến. Kinh nghiệm của kiểm toán viên trưởng và đội ngũ nhân sự chuyên trách ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc. Số lượng khách hàng mà công ty kiểm toán phục vụ cùng thời điểm cũng tác động đến khả năng phân bổ nguồn lực. Ngoài ra, mức phí kiểm toán được thỏa thuận trước có liên quan mật thiết đến thời gian kiểm toán, vì phí cao thường đi kèm với nguồn lực dồi dào và thời gian thực hiện được tối ưu hóa.

III. Phương pháp nghiên cứu và mô hình phân tích nhân tố

Phương pháp nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC tại Việt Nam sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khoa học. Phương pháp định lượng được áp dụng chính thông qua mô hình hồi quy tuyến tính bội với biến phụ thuộc là thời gian kiểm toán đo lường bằng số ngày. Các biến độc lập bao gồm quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, lợi nhuận, chất lượng khoản dồn tích, thương hiệu Big4 và kinh nghiệm kiểm toán viên. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Phương pháp định tính bổ sung thông qua phỏng vấn chuyên gia và phân tích trường hợp điển hình. Kiểm định đa cộng tuyến, tự tương quan và dị phương sai được thực hiện để đảm bảo độ tin cậy của mô hình. Kết quả nghiên cứu từ luận án tiến sĩ năm 2021 tại Đại học Kinh tế quốc dân cho thấy mô hình có khả năng giải thích tốt các biến động trong thời gian kiểm toán.

3.1. Mô hình hồi quy và biến số nghiên cứu

Mô hình hồi quy tuyến tính bội được xây dựng với biến phụ thuộc là thời gian kiểm toán BCTC tính bằng số ngày từ bắt đầu đến phát hành báo cáo. Các biến độc lập chính bao gồm: LOGSIZE (quy mô doanh nghiệp), LEVERAGE (tỷ lệ nợ), ROA (khả năng sinh lời), ACCRUALS (chất lượng khoản dồn tích), BIG4 (thương hiệu kiểm toán) và EXPERIENCE (kinh nghiệm kiểm toán viên). Mô hình được kiểm định bằng hệ số R bình phương điều chỉnh, thống kê F và các giả định cổ điển của hồi quy. Kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp và thương hiệu Big4 là hai nhân tố có ảnh hưởng thống kê显著 đến thời gian kiểm toán tại Việt Nam.

3.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ nguồn thứ cấp bao gồm báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán và bản cáo bạch của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM và Hà Nội. Giai đoạn nghiên cứu thường kéo dài từ 3 đến 5 năm để đảm bảo tính đại diện của mẫu. Thông tin về thời gian kiểm toán được trích xuất từ ngày bắt đầu và ngày phát hành báo cáo kiểm toán ghi trên văn bản. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê STATA hoặc EViews với các bước làm sạch dữ liệu, kiểm tra giá trị ngoại lai và biến số lỗi. Mẫu nghiên cứu loại trừ các công ty tài chính ngân hàng và các trường hợp thiếu dữ liệu.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn trong kiểm toán Việt Nam

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC tại Việt Nam mang lại nhiều kết quả có giá trị cho cả lý luận và thực tiễn nghề kiểm toán. Kết quả khẳng định rằng quy mô doanh nghiệp, mức độ phức tạp nghiệp vụ, thương hiệu công ty kiểm toán và chất lượng khoản dồn tích là những nhân tố có ảnh hưởng thống kê显著 đến thời gian kiểm toán. Đặc biệt, chất lượng khoản dồn tích yếu kém buộc kiểm toán viên phải điều chỉnh thủ tục và mở rộng phạm vi thử nghiệm, dẫn đến thời gian kiểm toán kéo dài. Công ty kiểm toán Big4 có thời gian kiểm toán ngắn hơn nhờ quy trình chuẩn hóa và nguồn lực dồi dào.Ứng dụng thực tiễn, các công ty kiểm toán nên xây dựng hệ thống đánh giá rủi ro khách hàng trước khi nhận cuộc kiểm toán. Doanh nghiệp cần cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và chuẩn bị hồ sơ đầy đủ để giảm thời gian kiểm toán. Cơ quan quản lý nên ban hành hướng dẫn cụ thể về tiêu chí đánh giá thời gian kiểm toán hợp lý.

4.1. Hàm ý chính sách cho công ty kiểm toán và doanh nghiệp

Đối với công ty kiểm toán, kết quả nghiên cứu gợi ý cần xây dựng hệ thống phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro và thời gian kiểm toán dự kiến. Việc áp dụng công nghệ kiểm toán dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo có thể rút ngắn thời gian thực hiện đáng kể. Đào tạo kiểm toán viên chuyên sâu về ngành nghề cụ thể giúp tăng hiệu quả kiểm toán. Đối với doanh nghiệp, việc đầu tư vào hệ thống kế toán hiện đại, chuẩn hóa quy trình tài chính và tăng cường kiểm soát nội bộ sẽ giảm thiểu thời gian kiểm toán. Doanh nghiệp cũng nên chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho kiểm toán viên ngay từ đầu cuộc kiểm toán.

4.2. Hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về thời gian kiểm toán BCTC tại Việt Nam còn nhiều khoảng trống cần được lấp đầy trong tương lai. Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào ảnh hưởng của chuyển đổi số và công nghệ kiểm toán đến thời gian thực hiện. Nghiên cứu so sánh thời gian kiểm toán giữa các ngành nghề cụ thể sẽ cung cấp insight sâu hơn.Ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế đến thời gian kiểm toán cũng là chủ đề值得探索. Ngoài ra, nghiên cứu về mối quan hệ giữa thời gian kiểm toán và chất lượng kiểm toán sẽ giúp hiểu rõ hơn bản chất của hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/04/2026
Luận án tiến sỹ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) do kiểm toán độc lập (KTĐL) thực hiện được coi là phương thức góp phần đảm bảo sự minh bạch, công khai, phát triển bền vững của doanh nghiệp (DN) và sự công bằng của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam. Kiểm toán độc lập là một nhu cầu cần thiết, không thể thiếu tại bất cứ nền kinh tế phát triển nào. Mục tiêu của kiểm toán BCTC do KTĐL thực hiện là cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng BCTC của đơn vị báo cáo không còn chứa đựng những sai phạm trọng yếu theo các khuôn khổ, tiêu chuẩn được thiết lập. Do vậy, vai trò của kiểm toán BCTC ngày càng được khẳng định.

Tuy nhiên bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt của lĩnh vực này trên thị trường là một mối lo ngại lớn khi nhu cầu kiểm toán ngày càng lớn mà các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) hiện nay đang trong tình trạng quá tải về khối lượng công việc sẽ dẫn đến những vấn đề cần phải quan tâm về đảm bảo chất lượng kiểm toán. Đối với các DNKT và kiểm toán viên (KTV), quy định về thời hạn nộp BCTC và báo cáo kiểm toán dẫn đến áp lực thời gian tương đối lớn và có thể dẫn đến những ảnh hưởng đối với chất lượng kiểm toán (Lambert và cộng sự, 2017). Nhiều DNKT phải cố gắng thiết lập nên những cách thức để giảm áp lực về mặt thời gian gây ra khó khăn cho cuộc kiểm toán để làm sao vẫn đảm bảo được chất lượng kiểm toán. Trong bối cảnh chất lượng kiểm toán và uy tín có thể chưa được coi là vấn đề đặt ra hàng đầu đối với các DNKT thì việc nghiên cứu thời gian kiểm toán BCTC do các DNKT thực hiện tại Việt Nam là rất cần thiết bởi thời gian kiểm toán là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh đến chất lượng kiểm toán.

Kiểm soát thời gian kiểm toán BCTC nhằm đảm bảo chất lượng kiểm toán BCTC là mối quan tâm lớn của các DNKT, cơ quan chức năng, nhà nước cũng như bản thân chính đơn vị được kiểm toán và những người sử dụng kết quả kiểm toán BCTC. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít sự hiểu biết và nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC để có thể kiểm soát được vấn đề này. Việc sắp xếp, lên kế hoạch và áp KTV kiểm toán theo số giờ đã định có thể ảnh hưởng đến khối lượng, nội dung và phạm vi công việc mà KTV thực hiện, do đó ảnh hưởng đến khả năng KTV có tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kiểm toán, hay bảo đảm chất lượng kiểm toán hay không? Hiện nay, trên thế thế giới, xu hướng tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro được áp dụng phổ biến và cũng được quy định trong các chuẩn mực kiểm toán quốc tế 2 và Việt Nam. Với phương pháp này yêu cầu các KTV phải thực hiện việc đánh giá rủi ro kiểm toán (bao gồm rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu và rủi ro phát hiện) trong suốt quá trình kiểm toán (đặc biệt ở khâu lập kế hoạch kiểm toán) từ đó đề ra những phương hướng, chiến lược, nội dung, phạm vi, thời gian và chương trình kiểm toán chi tiết.

Từ cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đến nay, những vụ bê bối tài chính trên thế giới mà nguyên nhân phần lớn xuất phát từ những gian lận trong lập BCTC của các tập đoàn đã dấy lên nghi vấn về vai trò của KTĐL, tính phù hợp của các ý kiến kiểm toán có đảm bảo gia tăng niềm tin cho người sử dụng thông tin tài chính hay không. Điển hình nhất là trường hợp gian lận trong lập và trình bày BCTC của Tập đoàn Enron (năm 2001) và Worldcom (2002) tại Mỹ kéo theo sự sụp đổ của 1 trong 5 hãng kiểm toán lớn nhất thế giới đầu những năm 2000 là Athur Andersen, làm gia tăng sự nghi ngờ của người quan tâm đến chất lượng của các cuộc kiểm toán BCTC. Gần hơn khi nhìn về vụ sụp đổ của Ngân hàng Lehman Brothers năm 2008, mặc dù trong vụ sụp đổ này trách nhiệm của Ernst & Young tại Mỹ không bị cáo buộc nghiêm trọng, nhưng trong báo cáo của Anton R. Valukas, Chủ tịch của Công ty Luật Jenner & Block, đồng thời là thanh tra do Tòa án chỉ định cũng cho rằng các thủ tục kiểm toán được thực hiện bởi E&Y là “cẩu thả” và các kiểm toán viên (KTV) của Hãng này đã rất “sơ suất” khi thực hiện kiểm toán.

Nhiều tờ báo của Anh cũng cho rằng trong trường hợp này E&Y đã thiếu sự cẩn trọng cần thiết trong xét đoán nghề nghiệp làm ảnh hưởng đến uy tín nghề nghiệp của Hãng trên toàn cầu. Những sai lệch trong BCTC đã được kiểm toán như vậy đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của KTV và công ty kiểm toán có liên đới hay không vẫn là những tranh cãi và chưa có kết luận cuối cùng. Theo The Wall Street Journal, tính đến tháng 7/2014, Ủy ban Giám sát kế toán các công ty đại chúng Mỹ (Public Company Accounting Oversight Board – PCAOB) đã đưa ra thông báo phát hiện thiếu sót 15/59 cuộc kiểm toán của PwC mà cơ quan này tiến hành điều tra, với tỷ lệ 32% (trong khi tỷ lệ này năm 2013 là 39% tương ứng với 21/54 cuộc kiểm toán còn thiếu sót). Trong những thiếu sót mà PCAOB xác định trong các cuộc kiểm toán của PwC được thanh tra có thể kể đến như: Thiếu quy trình đánh giá doanh thu, thiếu phân tích về lợi thế thương mại và tài sản vô hình, thiếu sót trong kiểm tra hạch toán của công ty khách hàng về các nghiệp vụ mua bán, hay thiếu sự đánh giá cẩn trọng trong quy trình tìm hiểu khách hàng và kiểm soát nội bộ của khách hàng.

Gần đây, tại Nhật Bản vào năm 2015, bê bối kế toán của Tập đoàn Toshiba (Toshiba) – một trong những tập đoàn lớn nhất của Nhật Bản đã gây chấn động và ảnh hưởng lớn đến không những tập đoàn này mà cả đến hãng kiểm toán E&Y, mà cụ thể là E&Y ShinNihon. Theo đó, Toshiba đã nhiều năm liên tiếp từ năm 2008 thực hiện các 3 thủ tục thao túng BCTC để khai khống lợi nhuận tập đoàn lên đến ít nhất 1,2 tỷ Đô la Mỹ trong khi kết quả kinh doanh của các tập đoàn khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh đều có xu hướng không tốt. Với những gian lận ảnh hưởng nghiêm trọng đến những người có liên quan đến tập đoàn này, E&Y ShinNihon là hãng có doanh thu kiểm toán cao nhất của Nhật Bản thời điểm đó lại không phát hiện ra được những bất thường trong BCTC của họ là một sự thiếu cẩn trọng trong quá trình kiểm toán, vì vậy các cơ quan quản lý đã phạt Văn phòng kiểm toán này số tiền lên đến 17,4 triệu Đô la Mỹ (tương đương với phí kiểm toán 2 năm liên tiếp của hãng này thu từ Toshiba) và nghiêm cấm hãng không được ký thêm các hợp đồng kiểm toán mới trong vòng 3 tháng đầu năm 2016. Tại Việt Nam, những năm gần đây cũng có không ít vụ việc liên quan đến gian lận của các công ty, đặc biệt các công ty niêm yết.

Điển hình là chất lượng ý kiến của KTV liên quan đến một số công ty niêm yết như trường hợp cổ phiếu của Công ty CP Dược phẩm Viễn Đông (mã chứng khoán DVD), Công ty CP Bông Bạch Tuyết, hay gần đây nhất là vụ bê bối liên quan đến đánh giá hàng tồn kho và dự phòng các khoản phải thu khó đòi của Công ty CP Gỗ Trường Thành (mã chứng khoán TTF) do KTV Công ty TNHH Kiểm toán Ernst & Young (E&Y Việt Nam) phát hiện (nhưng trước đó, hãng kiểm toán DFK lại không phát hiện ra những sai phạm trọng yếu liên quan đến DN này). Những trường hợp trên đã gây hậu quả nặng nề cho nhà đầu tư dẫn đến nghi ngờ về chất lượng ý kiến kiểm toán thực sự của KTV. Sau sự kiện của DVD, lần đầu tiên Ủy ban Chứng khoán đưa ra quyết định đình chỉ đối với bốn KTV các DNKT có liên quan. Vụ việc này đã phần nào giải tỏa những nghi ngờ của nhà đầu tư và thị trường về những “nghi án” liên quan đến chất lượng kiểm toán tại các công ty niêm yết, công ty chứng khoán.

Tuy nhiên, vấn đề nhiều chuyên gia đặt ra là ngoài việc KTV trực tiếp làm, thì vai trò của khâu soát xét chất lượng, thực hiện đánh giá rủi ro, đại diện Ban Giám đốc DNKT ký báo cáo kiểm toán,.là rất quan trọng, nên cần phải có các biện pháp góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán, giảm thiểu rủi ro cho cổ đông, nhà đầu tư. Những bê bối tài chính liên quan đến vấn đề kiểm toán ở trên chỉ là những trường hợp điển hình trong rất nhiều vụ bê bối trên thế giới và ở Việt Nam. Các vụ việc trên đặt ra nhiều vấn đề về chất lượng kiểm toán BCTC không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới. Đặc biệt, với một thị trường kiểm toán mà sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các DNKT trong nước với nhau, giữa các hãng kiểm toán quốc tế, trong đó có sự cạnh tranh giữa Big4 (Big4 – tên bốn hãng kiểm toán lớn nhất trên thế giới và tại Việt Nam là PwC, KPMG, E&Y, Deloitte).

Với sự cạnh tranh mạnh mẽ này thì những yếu tố liên quan đến chi phí trực tiếp để thực hiện cuộc kiểm toán là vấn đề quan trọng đối với nhiều DN kiểm toán, trong đó có thời gian thực hiện kiểm toán. Việc sắp xếp, lên kế hoạch cho số giờ thực 4 hiện một cuộc kiểm toán ảnh hưởng đến khối lượng, nội dung và phạm vi công việc mà các KTV thực hiện. Điều này dẫn đến khả năng liệu KTV đảm bảo thực hiện được đầy đủ các thủ tục theo hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán hay không, từ đó có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của cuộc kiểm toán, đồng thời cũng ảnh hưởng đến tính hiệu lực, tính kinh tế và tính hiệu quả của cuộc kiểm toán. Tính hiệu quả và tính kinh tế của một cuộc kiểm toán cũng có thể được đo lường bởi một số tiêu chí định tính và định lượng.

Về mặt định lượng, có thể có một số tiêu chí như phí kiểm toán tính trên tổng số giờ thực hiện kiểm toán hoặc phí kiểm toán tính trên tổng chi phí cần thiết thực hiện kiểm toán. Việc xác định thời gian cần thiết để thực hiện một cuộc kiểm toán thực sự không hề đơn giản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ