Chương 1 đã nêu ra lý do chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn bằng hình thức cho vay theo hạn mức thấu chi của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Phú Mỹ”. Qua đó tác giả đã nêu rõ mục tiêu, đối tượng, phạm vi của nghiên cứu, bố cục của bài luận văn, từ đó làm cơ sở để phân tích vấn đề cần nghiên cứu của những chương sau. CƠ SỞ LÝ LUẬN & MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương một đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương hai tác giả sẽ trình bày các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến sản phẩm cho vay theo hạn mức thấu chi và khái niệm quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân.
Các lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp. Lý thuyết hành vi của người tiêu dùng 2. Khái niệm “Hành vi của người tiêu dùng” ➢ Theo Lamb Hair Mcdaniel Hành vi của người tiêu dùng là toàn bộ quá trình người đó sử dụng để đưa ra quyết định mua hàng, cũng như sử dụng và thanh lý hàng hóa hoặc dịch vụ đã mua; cũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng và sử dụng sản phẩm (“Consumer behavior is processes a consumer uses to make purchase decisions, as well as to use and dispose of purchased goods or services; also includes factors that influence purchase decisions and product use.”) ➢ Theo Philip Kotler & Keller (2013) Hành vi người tiêu dùng là một tổng thể những hành động của người tiêu dùng kể từ khi có nhu cầu mua sắm cho tới khi mua thành công và cả sau khi kết thúc việc mua sản phẩm. Quá trình thông qua quyết định mua sắm của người tiêu dùng diễn ra qua 5 giai đoạn: Nhận biết nhu cầu → Tìm kiếm thông tin → Đánh giá các phương án → Quyết định mua → Hành vi sau khi mua.
Có thể hiểu hành vi của người tiêu dùng là các hành động, phản ứng công khai mà bản thân người tiêu dùng được hình thành từ những quan điểm suy nghĩ và những kinh nghiệm biểu hiện trong quá trình đưa ra quyết định mua sắm sản phẩm hay dịch vụ và sau khi tiêu dùng sản phẩm hay dịch vụ. Quá trình ra quyết định mua hàng 6 Theo mô hình năm giai đoạn của Philip Kotler and Gary Armstrong thì khi khách hàng quyết mua hay lựa chọn một sản phẩm hoặc một dịch vụ nào đó không đơn giản là quyết định mua liền mà việc quyết định mua của khách hàng thông qua quá trình quyết định mua. Quá trình ra quyết định mua hàng theo Philip Kotler and Gary Armstrong (2011) bao gồm 5 bước như sau: Hình 2. Mô hình hành vi mua hàng Nhận biết nhu cầu Tìm kiếm thông tin Hành vi sau khi mua Đánh giá các phương án Quyết định mua (Nguồn: Philip Kotler and Gary Armstrong, Principples of Marketing, 2011) Bước 1: Nhận biết nhu cầu Quá trình ra quyết định của người mua hàng được bắt đầu từ khi họ có nhu cầu mua sắm bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào đó.
Nhu cầu mua sắm có thể bắt nguồn từ những tác nhân kích thích bên trong hay bên ngoài. Nhu cầu có thể bắt nguồn từ các tác nhân bên trong khi những nhu cầu cơ bản nhất như ăn, uống, ngủ, nghỉ… chưa được thỏa mãn và tăng đến mức cao và trở thành điều thôi thúc. Và vì vậy để giải quyết niềm thôi thúc đó, họ sẽ hướng vào những đối tượng có khả năng thỏa mãn được niềm thôi thúc. Nhu cầu cũng có thể bắt nguồn từ các tác nhân bên ngoài.
Ví dụ: một người đi ngang qua cửa hiệu bánh mì và hình ảnh những chiếc bánh mì vừa mới nướng xong đã kích thích làm cho người đó cảm thấy đói hoặc một người nào đó thấy người hàng xóm mua xe mới rất đẹp làm cho người đó thấy thích. tất cả các điều trên đều có thể tạo nên nhu cầu của con người. Sau khi nhận biết rằng mình có nhu cầu về sản phẩm 7 hay dịch vụ nào đó thì người đó sẽ tiến hành bước 2 là tìm kiếm thông tin liên quan đến sản phẩm hay dịch vụ đó. Bước 2: Tìm kiếm thông tin Người tiêu dùng khi có nhu cầu bắt đầu họ sẽ tìm kiếm thông tin liên quan sản phẩm hay dịch vụ đó.
Ví dụ: một người có nhu cầu về mua ôtô, họ sẽ tự mình đọc tài liệu, gọi điện thoại cho bạn bè, tham gia các hoạt động khác để tìm hiểu về ôtô, họ sẽ chú ý đến những quảng cáo ôtô, ôtô bạn bè đã mua. Điều quan trọng nhất là những người làm marketing phải quan tâm chính là nguồn thông tin chủ yếu mà người tiêu dùng hay tìm đến để tìm kiếm thông tin và ảnh hưởng của từng những nguồn đó đến quyết định mua sắm. Thông qua thu thập, tìm kiếm thông tin, người tiêu dùng hiểu rõ hơn về các nhãn hiệu cạnh tranh và các tính năng của chúng. Sau khi người tiêu dùng tìm kiếm thông tin, họ chưa quyết định mua ngay, mà có nhiều phương án để họ lựa chọn nhãn hiệu nào.
Bước 3: Đánh giá các phương án Người tiêu dùng sẽ đánh giá các phương án như thế nào sau khi tìm hiểu các thông tin về các nhãn hiệu mà họ cần? Không có một quy trình đánh giá nào là toàn diện và duy nhất mà có thể áp dụng cho tất cả mọi người tiêu dùng. Thậm chí một người tiêu dùng có thể sử dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau cho các tình huống mua sắm khác nhau. Bước 4: Quyết định mua hàng Hình 2. Những bước từ giai đoạn đánh giá đến giai đoạn quyết định Thái độ của Đánh giá những người khác Quyết Ý định các định mua hàng phương án Những yếu tố tình mua huống bất ngờ (Nguồn: Philip Kotler and Gary Armstrong, Principples of Marketing, 2011) 8 Ý định mua hàng của người tiêu dùng thường chịu tác động bởi 2 yếu tố: - Yếu tố thứ nhất là Thái độ của những người khác: Thái độ của những người khác đối với phương án mua hàng có thể làm suy yếu đi hoặc tăng thêm ý định của người tiêu dùng vào phương án đó: (1) Thái độ phản đối/ ủng hộ của những người đó đối với phương án ưu tiên của người tiêu dùng; (2) Động cơ của người tiêu dùng muốn làm theo mong muốn của người khác - Yếu tố thứ hai là Tình huống bất ngờ: Người tiêu dùng đã chuẩn bị sẵn phương án mua hàng.
Khi họ chuẩn bị quyết định mua hàng thì tình huống bất ngờ có thể xuất hiện làm họ phải thay đổi ý định mua hàng. Bước 5: Hành vi sau khi mua Công việc của người marketing không kết thúc khi sản phẩm hay dịch vụ được bán. Sau khi mua sản phẩm, người tiêu dùng hài lòng hoặc không hài lòng nó được thể hiện bằng các hành vi sau khi mua. Nếu sản phẩm ít hơn so với kỳ vọng, người tiêu dùng thất vọng; nếu đáp ứng kỳ vọng thì người tiêu dùng hài lòng; nếu vượt quá kỳ vọng thì người tiêu dùng thích thú.
Khoảng cách giữa thực tế và kỳ vọng càng lớn thì người mua thất vọng càng nhiều. Từ đó cho thấy người bán hàng nên hứa hẹn những gì mà thương hiệu của mình cung cấp để người mua hài lòng. Sau khi mua, người tiêu dùng hài lòng với những lợi ích của sản phẩm chọn và rất vui mừng vì tránh được những hạn chế của những sản phẩm không mua. Tuy nhiên, mua sản phẩm là một sự thỏa hiệp.
Do đó, người mua rất là khó chịu khi mua nhằm những hạn chế của các sản phẩm được lựa chọn và việc mất đi những lợi ích của sản phẩm bị loại bỏ. Hầu hết liên quan đến các bất đồng trong mua sắm điều xuất phát từ nhận thức đối với sản phẩm sau khi mua. Sự hài lòng của khách hàng rất quan trọng. Khi khách hàng hài lòng đối với sản phẩm họ sẽ nói tốt với người khác về sản phẩm, đồng thời ít để ý đến các nhãn hiệu cạnh tranh và mua các sản phẩm khác.
9 Những người tiêu dùng không hài lòng thường có những phản ứng khác nhau, như câu nói tiếng lành đồn gần tiếng xấu đồn xa, việc này gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của người bán. Chúng ta cũng không nên căn cứ vào một hay hai khách hàng không hài lòng mà điều chỉnh lại mà chúng ta cần phải thăm dò sự hài lòng của nhiều khách hàng thường xuyên để có sự điều chỉnh, cải thiện hợp lý. Lý thuyết về cho vay, vai trò, phân loại 2. Khái niệm “Cho vay” ➢ Theo Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Trong đó: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Vai trò của “cho vay” - Mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động khác của Ngân hàng Doanh thu từ hoạt động kinh doanh thường chiếm tỷ trọng rất cao trong cơ cấu tổng doanh thu của Ngân hàng (từ 70% - 90%). Tỷ lệ này càng cao với các Ngân hàng ở các nước đang phát triển do các sản phẩm ngân hàng còn chưa được đa dạng. Ngoài ra, bên cạnh việc cho vay, ngân hàng có thể bán chéo một số sản phẩm dịch vụ khác ăn theo dịch vụ cho vay như mở tài khoản thanh toán, dịch vụ thu nợ tự động, bảo hiểm khoản vay, thông tin khoản vay qua tin nhắn điện thoại…, góp phần làm đa dạng hóa hoạt động của Ngân hàng.
- Hoạt động cho vay góp phần điều hoà cung- cầu dịch vụ hàng hoá 10 Doanh nghiệp muốn phát triển sản xuất, hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh mà thiếu vốn thì không thể làm được. Việc cho vay của Ngân hàng giúp giải quyết nhu cầu thiếu vốn của doanh nghiệp, từ đó có thể sản xuất ra nhiều hàng hóa – dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Tuy nhiên doanh nghiệp chỉ có thể thu lại lợi nhuận cũng như trả được nợ cho ngân hàng khi doanh nghiệp bán được hết số sản phẩm hàng hoá đã sản xuất ra, hay phải có một bộ phận những người tiêu dùng mua và có khả năng mua được sản phẩm đó.