Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CÁ NHÂN 2. Khái niệm tín dụng Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ Latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán (Hồ Diệu, 2001).
Trên cơ sở tiếp cận ở chủ thể cấp tín dụng là ngân hàng, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, tín dụng được định nghĩa là ngân hàng “thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Phân loại tín dụng Trong nền kinh tế hiện nay có rất nhiều loại hình tín dụng, vì thế phải căn cứ vào chủ thể trong mối quan hệ giữa hai bên để chia tín dụng thành ba nhóm phổ biến sau: Tín dụng thương mại: Đây là mối quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp đối tác làm ăn với nhau dưới hình thức mua bán chịu. Tín dụng ngân hàng: Đây là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế như doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân,. Tín dụng nhà nước: Đây là mối quan hệ tín dụng giữa các chủ thể trong nền kinh tế và Nhà nước trong đó Nhà nước đóng vai trò là chủ thể đi vay.
Tuy là ba hình thức tín dụng trên rất phổ biến nhưng tín dụng ngân hàng là một hình thức vô cùng quan trọng và được xem là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế với vai trò cung cấp nguồn vốn cho thị trường. Tín dụng ngân hàng được xem là mối quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ thể trung gian là ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn xác định với một khoản chi phí nhất định (Hồ Diệu, 2001). Trong đó tín dụng ngân hàng có những đặc trưng cơ bản sau: 6 • Nếu xem xét khía cạnh hình thái giá trị tín dụng, có thể thấy loại hình tín dụng khác nhau, tài sản giao dịch thường dưới dạng hàng hóa hoặc tiền tệ. Tuy nhiên với ngân hàng thì khác, tín dụng ngân hàng có thể thông qua hình thái đa dạng với hình thức tiền tệ, tài sản thực hoặc là chữ kí.
• Rủi ro đối với hoạt động tín dụng ngân hàng mang tính tất yếu, chỉ có thể kiểm soát, kiềm chế chứ không thể loại trừ hoàn toàn. Rủi ro tín dụng ngân hàng chỉ xảy ra trong hai tình huống sau: khách hàng không có khả năng trả nợ; khách hàng không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng. Ta cũng có thể thấy rằng thực chất các giao dịch tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin có thể thông tài sản đảm bảo hay sự bảo lãnh tuy nhiên sự phá bỏ cam kết của khách hàng đối với ngân hàng luôn có thể xảy ra, do biến cố của khách hàng là một yếu tố chủ quan nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng hoặc thiện chí của khách hàng là cái mà ngân hàng không có gì để đảm bảo. Vì vậy ngân hàng chỉ có thể dùng biện pháp để tầm soát, kiềm chế rủi ro ở mức thấp nhất chứ không tể loại trừ hay triệt tiêu nó.
• Hoàn trả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và của tín dụng ngân hàng nói riêng. Đây được xem là sự khác biệt của tín dụng và các giao dịch khác. Đối với tín dụng ngân hàng thì sự hòa trả là cực kì quan trọng vì bản chất ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian đi vay và cho vay lại, nếu khách hàng không hoàn trả thì ngân hàng sẽ không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh được nữa. Vì vậy để đảm bảo hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi thì ngân hàng cần phải cân nhắc kĩ hai yếu tố cơ bản: Xác định thời hạn, kỳ hạn tín dụng hợp lý; Chính sách lãi suất tín dụng cần đảm bảo hài hòa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và nền kinh tế chấp nhận được.
• Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng được xem là vô điều kiện vì trong quá trình cấp tín dụng được dựa trên cơ sở những căn cứ pháp lý cụ thể đó là hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ,. đây là những bằng chứng, ràng buộc pháp lý giữa ngân hàng và khách hàng bao gồm những nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng khi đến thời hạn thanh toán. Khái niệm tín dụng cá nhân Dựa trên cơ sở định nghĩa “Tín dụng ngân hàng” đã được trình bày bên trên và trong phạm vi Luận văn nghiên cứu này thì đối tượng khách hàng cá nhân được xem là 7 những cá nhân, hộ gia đình có giấy chứng nhận kinh doanh cá thể, vì vậy tín dụng cá nhân là hình thức mà ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tạm thời cho đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình kinh doanh cá thể trong thời gian xác định và có sự hoàn trả gốc lẫn lãi, nguồn vốn vay được khách hàng dùng vào mục đích phụ vụ đời sống hay phục vụ nhu cầu gia tăng sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Đặc điểm của tín dụng cá nhân 2.
Số lượng các khoản vay lớn, quy mô mỗi khoản vay nhỏ Đối với khách hàng sử dụng vốn vay tín dụng ngân hàng thì chủ yếu xoay quay hai mục đích chính sau: Thứ nhất: Cá nhân hoặc hộ gia đình vay để bổ sung, đầu tư thêm vào hoạt động kinh doanh của mình. Quyền hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình được pháp luật thừa nhận tuy nhiên với quy mô nhỏ, năng lực hạn chế nên thường gặp tình trạng khó khăn ngắn hạn về tài chính. Thứ hai: Cá nhân vay để đáp ứng được nhu cầu vốn tiêu dùng. Khoản vay này chủ yếu cho mục đích phục vụ trực tiếp cho chi tiêu trong cuộc sống như đầu tư vào đất đai, bất động sản; mua sắm vật dụng trong gia đình; sữa chữa nhà cửa; nhu cầu cho con cái đi du học;.
Đối với hai mục đích vay này nhìn chung đều bị ngân hàng giới hạn bởi những điều kiện của ngân hàng về sự hợp lý trong việc sử dụng vốn; khả năng thanh toán và tài sản đảm bảo cho khoản vay. Mặc dù vậy nhưng số lượng khoản tín dụng cá nhân rất lớn do hai nguyên nhân: Đối tượng là khách hàng cá nhân thường rất đông do đối tượng và loại hình vay này là mọi cá nhân trong xã hội từ những người có thu nhập trung bình, thấp đến thu nhập cao. Nhu cầu tín dụng đa dạng và phong phú theo các mục đích vay của khách hàng, vì chất lượng cuộc sống và dân trí ngày càng được nâng cao thì nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống của mình. Tín dụng cá nhân thường có những rủi ro về thông tin bất cân xứng và rủi ro tác nghiệp Rủi thông do tin bất cân xứng: Đối với hình thức tín dụng cá nhân thì thông tin khách hàng được xem là một trong những yếu tố rất quan trọng để ngân hàng ra quyết định để cho vay bên cạnh tính hợp lý về nhu cầu, mục đích sử dụng vốn, khả năng thanh toán đến hạn và tài sản đảm bảo.
Tuy nhiên, đối với hình thức tín dụng này, 8 việc đánh giá nhân thân, nguồn tiền trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó có thể đầy đủ, chính xác, rõ ràng dẫn đến thông tin bất cân xứng làm cho việc thẩm định khách hàng vẫn chưa chính xác. Mặt khác, rủi ro còn nằm ở chỗ là nguồn trả nợ của cá nhân chủ yếu đến từ nguồn thu nhập đều đặn tại thời điểm hiện tại. Nhưng trong quá trình phát sinh quan hệ tín dụng với ngân hàng, khách hàng gặp những vấn đề liên quan đến sức khỏe, mất việc hay những biến cố bất ngờ mang tính khách quan không lường trước được thì ảnh hưởng đến thu nhập và nguồn trả nợ cho ngân hàng. Rủi ro tác nghiệp: Do đặc điểm tín dụng là mỗi khoản vay có giá trị nhỏ nhưng số lượng hồ sơ của các khoản vay là rất nhiều, vì vậy để đáp ứng được tất cả nhu cầu của khách hàng đòi hỏi sự nhanh chóng trong việc giải quyết hồ sơ khách hàng của cán bộ tín dụng.
Vì vậy, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý hoặc sơ hở của những quy định để lừa đảo khách hàng hoặc thông đồng với khách hàng gây tổn thất cho ngân hàng. Đối với cho vay tín chấp thì rủi ro này còn cao hơn rất nhiều, vì cơ sở cấp tín dụng cho khách hàng chủ yếu là thẩm định dựa trên uy tín, nhân thân khách hàng tốt hay xấu chứ không phải hình thức tài sản đảm bảo thế chấp. Tín dụng cá nhân gây tốn kém nhiều chi phí: Với đặc điểm khách hàng cá nhân số lượng nhiều, địa điểm sống rất phân tán để duy trì và phát triển tín dụng cá nhân không những tốn kém về mặt thời gian mà còn về mặt chi phí bởi những công tác sau: Để tạo thuận lợi cho việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở nhiều địa bàn, địa điểm, khu vực thì cần mở rộng mạng lưới, tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị. Hoạt động phát triển nguồn nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ đầy đủ, kịp thời tất cả nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác từ khâu nhận hồ sơ đến khâu thẩm định, quyết định cho vay và thu hồi nợ.
Thông tin khách hàng đôi khi bất cân xứng do vậy ngân hàng phải tiến hành rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ bước tiếp nhận hồ sơ đầu tiên, thầm định, giải ngân và thu hồi nợ.