chương 1, tác giả đề cập lý do chọn đề tài, từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu trong luận văn bao gồm mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Từ đó đưa ra câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu tương ứng với phương pháp nghiên cứu phù hợp được áp dụng trong luận văn. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung chương 2 đưa ra các khái niệm trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến RRTD và quản trị RRTD trong cho vay khách hàng. Ngoài ra, tác giả cũng đã đề cập đến các nguyên tắc quản trị RRTD theo Basel.
Dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, tác giả để cũng cố và thiết lập mô hình nghiên cứu. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả sẽ đề cập quy trình nghiên cứu, bao gồm các bước để thực hiện nghiên cứu, nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu hoàn chỉnh cho đến việc ra kết luận hàm ý quản trị dựa trên nghiên cứu của tác giả. Các phương pháp được sử dụng bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Sau khi hoàn thành thang đo chính thức, tác giả tiến hành chạy dữ liệu để thu thập kết quả đưa ra các khía cạnh thảo luận và so sánh kết quả có phù hợp với kỳ 7 vọng tương tác của các nhân tố đã đề ra ở chương trước, đồng thời so sánh và thảo luận các kết quả đạt được dựa trên các nghiên cứu trước đây.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Dựa trên kết quả của nghiên cứu đạt được, tác giả đưa ra một số hàm ý quản trị để cải thiện hoạt động quản trị RRTD tại Sacombank – CN Quận 4, nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động tín dụng cũng như tính hữu hiệu của hoạt động kinh doanh chung của Sacombank – CN Quận 4. TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Theo Luật các TCTD số 47/2010/QH12 và Luật sử đổi số 17/2017/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” (Quốc hội, 2017). Theo đó, “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Như vậy ở một phạm vi hẹp, thì cho vay chính là hình thức cấp tín dụng bởi NHTM cho các KH.
Các khoản cho vay là một món nợ đối với cá nhân hay doanh nghiệp đi vay nhưng lại là một tài sản đối với ngân hàng. So sánh với các tài sản khác, khoản mục cho vay có tính thanh khoản kém hơn và thông thường các khoản cho vay không thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản cho vay đó đến hạn thanh toán (Phan Thị Cúc và cộng sự, 2008). Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mại (Nguyễn Thị Mùi và cộng sự, 2008). Đây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng.
Thành phần TS Có của ngân hàng bao gồm: Dự trữ (Reserves); Cho vay (loans); Đầu tư (Investment); và Tài sản Có khác (Other Assets). Theo Nguyễn Thị Mùi và cộng sự (2008), là nghiệp vụ tín dụng nghiệp vụ của ngân hàng thương mại. Trong đó ngân hàng thương mại sẽ cho người đi vay, vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi 9 đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi.
Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn. Người đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay. Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn…do chủ quan hoặc khách quan. Do đó khi cho vay các ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố… 2.2 Phân loại hoạt động cho vay Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, hoạt động cho vay sẽ được phân chia thành các loại hình cho vay khác nhau.
Các tiêu thức cụ thể là Phân loại theo thời hạn cho vay; Phân loại theo đối tượng cho vay; và Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay.1 Phân loại theo thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Cho vay trung hạn: là các món vay có khoảng thời gian trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay trung hạn chủ yếu dùng cho các mục đích mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh… - Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm. Cho vay dài hạn nhằm mục đích tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản như xây dựng nhà ở, cầu đường, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới… 1 2.2 Phân loại theo đối tượng cho vay Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay được phân loại thành cho khách hàng cá nhân; cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV); cho vay đối với DN lớn.
- Cho vay đối với khách hàng cá nhân: chủ thể vay vốn chính là các cá nhân có nhu cầu vay vốn để kinh doanh và tiêu dùng. - Cho vay đối với DNNVV: chủ thể vay vốn chính là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong những lĩnh vực khác nhau có quy mô nhỏ lẻ, nhu cầu vốn không lớn. Tiêu thức phân loại này có thể thay đổi trong quá trình phát triển kinh tế và đặc thù của mỗi quốc gia. - Cho vay đối với doanh nghiệp lớn: chủ thể vay vốn chính là các doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô hoạt động kinh doanh lớn, các tập đoàn kinh tế, có khả năng cung cấp hàng hóa dịch vụ với số lượng lớn và ảnh hưởng chi phối nền kinh tế.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung vào đối tượng khách hàng cá nhân.3 Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay - Cho vay có tài sản đảm bảo được gọi là hình thức cho vay thế chấp: là loại cho vay dựa trên cơ sở có bảo đảm như cầm cố, thế chấp, hoặc phải có bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. - Cho vay không có tài sản đảm bảo là hình thức cho vay tín chấp: là việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đi vay mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ 3. Loại hình cho vay này thông thường dành cho khách hàng có uy tín cao, khách hàng truyền thống, có tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh thường xuyên có lãi… 1 2.3 Cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại - Xuất phát từ khái niệm cho vay của NHTM được đề cập trong Luật các TCTD, có thể hiểu cho vay KHCN là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo kỳ hạn đã được thỏa thuận và giao kết trong hợp đồng tín dụng. Đối tượng khách hàng vay bao gồm KHCN.
- Cho vay KHCN bao gồm những đặc điểm sau đây: • Đối tượng cho vay là các khách hàng cá nhân. • Cho vay KHCN có rủi ro cao so với cho vay KHDN vì trong quá trình thẩm định cho vay, ngân hàng có ít thông tin mang tính định lượng để làm cơ sở ra quyết định. Trong khi đó, những yếu tố quan trọng mang tính quyết định đến khả năng hoàn trả nợ vay của KHCN chủ yếu dựa vào định tính và khó xác định, như tư cách của khách hàng, chất lượng của thông tin tài chính. Rủi ro đối với cho vay KHCN có mức độ lớn và được coi là tài sản có có rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng.
Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc… • Các khoản cho vay KHCN thường có quy mô nhỏ (giá trị khoản vay nhỏ) nhưng số lượng khoản vay nhiều. Đồng thời, lợi nhuận từ hoạt động cho vay KHCN mang lại cao cho NHTM vì lãi suất cho vay thường cao hơn so với lãi suất cho vay khách hàng doanh nghiệp. • Cho vay KHCN là danh mục có chi phí cao nhất của ngân hàng, do quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay rất lớn nên việc xử lý các bước trong quy trình tín dụng nhiều và liên tục dẫn đến các chi phí phát sinh cho ngân hàng cao. 1 • Chất lượng thông tin tài chính do KHCN cung cấp thường không đầy đủ và thiếu tính minh bạch.
Do khách hàng thường có xu hướng cung cấp những thông tin mang tính chủ quan và có lợi cho chính mình, nhằm đạt được khoản cho vay từ ngân hàng, ví dụ như KHCN thường kê khai thông tin thu nhập cao hơn so với thực tế hoặc cung cấp các giấy tờ giả mạo cho ngân hàng.