phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc ngành BĐS trên TTCK Việt Nam. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý từ kết quả nghiên cứu. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN 1.
KHÁI QUÁT VỀ TÍNH THANH KHOẢN 1. Khái niệm về tính thanh khoản Theo Keynes (1936), tính năng kinh tế đặc biệt của tiền đó chính là “tính thanh khoản”. Tính thanh khoản của doanh nghiệp thể hiện thông qua tổng hợp tính thanh khoản của từng loại tài sản trong doanh nghiệp và tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nhất. Nhờ vào tính thanh khoản, doanh nghiệp có thể tránh đƣợc những tác động tiêu cực về dòng tiền nhƣ áp lực trả nợ, áp lực về vốn,.
Tính thanh khoản là một khái niệm trong tài chính chỉ mức độ mà một tài sản bất kỳ có thể đƣợc mua hoặc bán trên thị trƣờng mà không làm ảnh hƣởng nhiều đến giá thị trƣờng của tài sản đó. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể đƣợc bán nhanh chóng mà giá bán không giảm đáng kể (Keynes, 1936), thƣờng đƣợc đặc trƣng bởi số lƣợng giao dịch lớn. Ví dụ, tiền mặt có tính thanh khoản cao, vì nó thƣờng có thể đƣợc "bán" (để đổi lấy hàng hóa) với giá trị gần nhƣ không thay đổi; chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu,. có tính thanh khoản cao nếu chúng có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng.
Cách gọi thay thế cho tính thanh khoản là tính lỏng, tính lưu động. Ý nghĩa của tính thanh khoản trong công ty Tính thanh khoản cho thấy sự linh hoạt và an toàn của một tài sản trên thị trƣờng: Tài sản ngắn hạn hay tài sản lƣu động có tính thanh khoản cao khi giá của nó ít biến động trên thị trƣờng. Thị trƣờng hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản càng cao. Thanh khoản có ý nghĩa rất lớn đến uy tín công ty: Dựa vào tính thanh khoản, nhà đầu tƣ có thể đánh giá một công ty có thể trả nợ đúng hạn hay không đối với các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và hàng hóa thì công ty đó, hoặc có thể đang rơi vào tình trạng yếu kém hoặc bị phá sản.
Không có khả năng chi trả 10 các khoản nợ ngắn hạn có thể ảnh hƣởng đến hoạt động của công ty và thậm chí cả uy tín của công ty. Tính thanh khoản có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của công ty: Thiếu tiền mặt hoặc tài sản lƣu động sẽ làm cho công ty bỏ lỡ những ƣu đãi đƣợc đƣa ra bởi các nhà cung cấp, dẫn đến chi phí cao hơn, do đó ảnh hƣởng đến lợi nhuận của công ty. Tính thanh khoản ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của của nhà đầu tư và các tổ chức tín dụng đối với doanh nghiệp: Các nhà cung cấp sẽ kiểm tra tính thanh khoản của công ty trƣớc khi cho vay hay bán chịu; ngân hàng sẽ yêu cầu tính thanh khoản khi họ đánh giá một khoản cho vay. Nếu công ty cần một khoản vay, ngân hàng có thể sẽ yêu cầu công ty đó duy trì mức thanh khoản tối thiểu nhất định, nhƣ một phần của thỏa thuận cho vay.
Các nhân viên cũng quan tâm đến tính thanh khoản của công ty để biết liệu các công ty có thể đáp ứng các nghĩa vụ liên quan đến quyền lợi của mình nhƣ: tiền lƣơng, quỹ phúc lợi,… (Kinh tế & Tiêu dùng, 2020). Các lý thuyết liên quan đến tính thanh khoản a. Lý thuyết ưu chuộng về khả năng thanh khoản Theo Keynes (1936), nội dung lý thuyết ƣa chuộng về khả năng thanh khoản cho rằng nhu cầu về tiền mặt của mọi ngƣời gồm hai bộ phận: một là, nhu cầu tiền mặt cho giao dịch. Lƣợng tiền nhiều có thể đại diện cho việc thu nhập cao, hoặc là nếu lƣợng tiền nắm giữ nhiều thì nhu cầu tiêu dùng sẽ cao hơn.
Hai là, nhu cầu tiền mặt cho mục đích đầu cơ. Lƣợng tiền cho mục đích đầu cơ sẽ liên quan theo quan hệ tỷ lệ nghịch với lãi suất. Lãi suất càng cao thì ngƣời đầu tƣ càng muốn sử dụng tiền vào đầu tƣ ít nắm giữ tiền mặt, ngƣợc lại, lãi suất thấp thì có xu hƣớng giữ tiền mặt nhiều hơn. Hay nói cách khác, lãi suất quyết định xu hƣớng giữ tiền, là cái giá để hy sinh sự ƣa chuộng tính thanh khoản của tiền mặt.
Lý thuyết ƣa chuộng tính thanh khoản: Giải thích đƣợc tác động của cung – cầu tiền tệ đến lãi suất cân bằng. Thông qua lý thuyết này để giải thích những 11 trƣờng hợp quan trọng về xu hƣớng biến động cung – cầu tiền tệ. Cụ thể, việc tăng cung tiền tệ sẽ làm giảm lãi suất, điều này đƣợc ứng dụng ở nhiều nƣớc khi thực hiện chính sách nhằm khuyến khích đầu tƣ và tiêu dùng thông qua biện pháp giảm lãi suất, mở rộng tiền tệ. Nhƣợc điểm của Lý thuyết ƣa chuộng tính thanh khoản đó là việc lý thuyết này giả định chỉ sử dụng tiền và trái phiếu để làm của cải dự trữ mà bỏ qua tác động của sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận dự tính của các loại tài sản khác nhƣ bất động sản, vàng,… Trong khi trên thực tế, các yếu tố này cũng ảnh hƣởng đến lãi suất trên thị trƣờng.
Nhƣ vậy, lý thuyết này nghiên cứu sự thay đổi của lãi suất cân bằng bởi một yếu tố kinh tế cụ thể trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Ngoài ra, cung tiền và lãi suất không phải lúc nào cũng tỷ lệ nghịch với nhau bởi sự gia tăng cung tiền ngoài việc tác động trực tiếp lên lãi suất còn có những tác động trực tiếp lên các yếu tố khác nhƣ: thu nhập, mức giá và tỷ lệ lạm phát dự tính. khi cung tiền tăng, các yếu tố này thay đổi có thể làm cho lãi suất tăng lên. Sau Keynes cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về thuyết ƣa chuộng tính thanh khoản.
Thuyết ƣa chuộng tính thanh khoản đƣa ra những lựa chọn xác định bao nhiêu của cải đƣợc đầu tƣ vào các tài sản tài chính và quan tâm đến sự phân bổ số của cải này vào tiền mặt và các tài sản tài chính thay thế khác. Hay nói cách khác, ƣa thích tính thanh khoản là một lý thuyết về việc mong muốn giữ tài sản ngắn hạn hơn so với các tài sản dài hạn làm ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của một doanh nghiệp. Lý thuyết người đại diện (The agency theory) Lý thuyết ngƣời đại diện (The agency theory) năm 1976, Jensen và Meckling đƣa ra lý thuyết ngƣời đại diện khi nghiên cứu các lý thuyết khái quát của công ty gồm lý thuyết hành vi quản lý, chi phí đại diện và cấu trúc vốn chủ sở hữu. Lúc này, cổ phiếu có tính thanh khoản cao có tác động nâng cao giá trị công ty.
12 Jensen và Meckling (1976) trong tác phẩm “Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu” đã giới thiệu các quan điểm của mình về lý thuyết ngƣời đại diện. Đây là một trong những tác phẩm đƣợc trích dẫn nhiều nhất trong gần 3 thập kỷ qua của giới học giả kinh tế, tài chính khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chi phí ngƣời đại diện (agency cost). Lý thuyết này có cơ sở từ tâm lý học, con ngƣời vốn có khuynh hƣớng cá nhân (individualistic), cơ hội (opportunistic), và tƣ lợi (self-interest) nhƣng để các cá nhân đó dung hòa lợi ích vì một mục đích là lợi nhuận và phát triển trong một tổ chức thì cần có ngƣời đại diện để dung hòa các cá thể đó trong tổ chức. Nghiên cứu này của Jensen và Meckling có các nội dung chính sau đây: Thứ nhất, chủ thể (principal) hay chủ sở hữu vốn (shareholders) và ngƣời đại diện (agent) hay nhà quản trị (managers) luôn có sự đối nghịch về lợi ích.
Ngƣời sở hữu quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng là lợi ích của chính họ) do vậy họ quan tâm đến việc tối đa hóa lợi nhuận. Trong khi nhà quản trị thƣờng chỉ quan tâm đến hiệu quả hoạt động, các mục tiêu về lợi ích của ngƣời lao động hay lợi ích của chính bản thân nhƣ lƣơng, thƣởng, phụ cấp, nguồn thu khác. Thứ hai, do sự không đồng nhất về lợi ích giữa chủ sở hữu vốn và ngƣời đại diện hay nhà quản trị làm phát sinh “Agency Cost” (tạm dịch là chi phí ngƣời đại diện, hay còn gọi là chi phí Giám đốc). Chi phí này bằng 0 (không) khi chủ sở hữu đồng thời là nhà quản trị công ty.
Thứ ba, cũng do sự không đồng nhất về lợi ích, nên khi nhà quản trị nắm ít hoặc không nắm giữ phần trăm vốn hoặc cổ phiếu công ty thì chi phí ngƣời đại diện sẽ càng lớn. Từ lý thuyết này, rất nhiều nghiên cứu đã vận dụng để giải thích hành vi của ngƣời đại diện liên quan đến các quyết định về tính thanh khoản của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Các chỉ số đo lƣờng tính thanh khoản 13 Để đánh giá tính thanh khoản hay khả năng thanh khoản của các doanh nghiệp, các chỉ số đƣợc sử dụng để đánh giá bao gồm: tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ số khả năng thanh toán tức thời và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Mỗi tỷ số đều có những ƣu và nhƣợc điểm riêng trong việc đo lƣờng tính thanh khoản.
Cụ thể nhƣ sau: a. Tỷ số thanh toán hiện hành (Current Ratio - CR). Tỷ số thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa toàn bộ tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của DN và đƣợc tính nhƣ sau: Khh = Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn Trong đó: Khh là tỷ số khả năng thanh toán hiện hành. Khh thấp, đặc biệt (< 1): thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp yếu, đây là dấu hiệu báo trƣớc những khó khăn tiềm ẩn về tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong việc trả các khoản nợ ngắn hạn.
Khi hệ số khả năng thanh toán hiện thời càng dần về 0, doanh nghiệp càng mất khả năng chi trả, tăng nguy cơ phá sản. Khh cao (>1) cho thấy doanh nghiệp có khả năng cao trong việc sẵn sàng chi trả các khoản nợ đến hạn. Tỷ số càng cao càng đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp, tính thanh khoản ở mức cao.