CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1. Lý do lựa chọn đề tài Tài chính vi mô là một trong những công cụ quan trọng hỗ trợ giảm nghèo và phát triển xã hội ở nhiều nơi trên thế giới. Các tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) hướng đến những đối tượng khách hàng chưa tiếp cận được khu vực tài chính chính thức thông qua các phương pháp tiếp cận sáng tạo. Đặc trưng của các TCTCVM là: cung cấp các dịch vụ tài chính chủ yếu cho các đối tượng khách hàng yếu thế đi kèm với các dịch vụ phi tài chính khác như giáo dục, chăm sóc sức khỏe.
góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao dân trí, cải thiện sức khỏe người dân và thúc đẩy bình đẳng giới. Điểm hấp dẫn của các TCTCVM là sứ mệnh vì người nghèo và phát triển xã hội (Armendáriz & Morduch, 2005; Ledgerwood & cộng sự, 2013). TCTCVM hoạt động không vì lợi nhuận nhưng để thực hiện được sứ mệnh lâu dài, duy trì sự bền vững trên thị trường và không gián đoạn hoạt động, bản thân TCTCVM phải tự bền vững về hoạt động và tài chính. Do vậy, bên cạnh mục tiêu xã hội, mục tiêu tài chính (được đánh giá bởi mức độ sinh lợi) cũng rất quan trọng đối với các TCTCVM.
Về mặt lý luận, thứ nhất, lợi nhuận là điều kiện tiên quyết cho ngành TCVM cạnh tranh đồng thời cũng là nguồn vốn rẻ mà không có một tổ chức nào có thể thu hút được từ nguồn vốn bên ngoài (Gitman, 2007). Lợi nhuận của các TCTCVM được coi là một nguồn vốn chủ sở hữu quan trọng vì lợi nhuận sẽ được tái đầu tư và điều này có thể thúc đẩy sự ổn định tài chính. Thứ hai, xét về lịch sử, các TCTCVM phần lớn được tài trợ thông qua các khoản tài trợ và trợ cấp của Chính phủ nhưng trong những năm gần đây, các nguồn quỹ mới đã xuất hiện xuất phát từ nhiều tổ chức trong đó chủ yếu là các tổ chức tài chính quốc tế và các quỹ đầu tư tư nhân thường được mô tả là tập trung vào mức độ sinh lợi của TCTCVM (Ghosh & Tassel, 2011). Khi TCTCVM chứng minh được rằng hoạt động của mình có thể tạo ra lợi nhuận thì sẽ thu hút được nhiều nguồn tài trợ bên ngoài hơn.
Thứ ba, ở cấp độ vĩ mô, một ngành TCVM có khả năng tự sinh lợi cũng sẽ có những đóng góp có ý nghĩa cho sự ổn định của hệ thống tài chính tổng thể. Tại Việt Nam, TCVM được đánh giá là đóng vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là công cuộc giảm nghèo đói và phát triển xã hội. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, hoạt động của các TCTCVM ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài (LUAN.nam luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.nam 2 chính cho khu vực kinh tế nông nghiệp – nông thôn và các ngách thị trường chưa được các tổ chức tín dụng chính thức khai thác. Để đáp ứng sự mở rộng cả về quy mô, nhu cầu và chất lượng của nhóm khách hàng thuộc khu vực này, quá trình chuyển đổi từ các chương trình, dự án TCVM phi lợi nhuận dưới sự tài trợ của các tổ chức tài chính phi chính phủ thành các TCTCVM giữ vai trò như một trung gian tài chính với mục tiêu lợi nhuận bên cạnh mục tiêu xã hội đã diễn ra một cách tự nhiên tại Việt Nam (Trần Trọng Triết, 2022).
Nghiên cứu của Charitonenko & cộng sự (2004) cũng cho thấy: các TCTCVM trên thế giới đã đạt được sự tiếp cận lớn nhất cho đến nay đã ngày càng áp dụng các nguyên tắc thương mại trong hoạt động của họ và nói chung là tự bền vững về mặt tài chính. Việc thương mại hóa tài chính vi mô sẽ thu hút sự chú ý ngày càng tăng như là các phương tiện tiềm năng để thu hẹp khoảng cách cung-cầu liên tục cho các sản phẩm và dịch vụ tài chính vi mô bền vững theo yêu cầu. Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sinh lợi của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu, giúp giải quyết vấn đề cấp thiết của thực tiễn tại Việt Nam. Tổng quan nghiên cứu Hoạt động TCVM đã thu hút được sự chú ý đáng kể trong những năm gần đây, cả từ các nhà hoạch định chính sách lẫn các nhà nghiên cứu.
Các TCTCVM phải đối mặt với nhiều thách thức có bởi vì họ phải đạt được hai mục tiêu là cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo (mức độ tiếp cận) và tự trang trải chi phí bỏ ra (mức độ bền vững). Mức độ bền vững có lẽ là một trong những thuật ngữ được thảo luận nhiều nhất liên quan đến các TCTCVM vì nhiều người coi đây là yếu tố quyết định cho tương lai của các tổ chức. Mức độ bền vững thường được xem là rất cần thiết để TCTCVM tiếp cận và mang lại lợi ích cho một số lượng lớn khách hàng nghèo 1. Các nghiên cứu điển hình về mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô Nhiều nghiên cứu đã cho thấy để các TCTCVM đạt được một cách đầy đủ tiềm năng, họ phải trở nên bền vững tài chính (Brau và Woller, 2004).
Bền vững tài chính “ là một trong những khía cạnh quan trọng của phát triển bền vững. Theo Ayayi & Sene (2010, 304) “mức độ bền vững tài chính của một TCTCVM được định nghĩa là khả năng tự tạo ra thu nhập để trang trải mọi chi phí hoạt động và đạt được lợi nhuận để phục vụ tăng trưởng”. Hay, Meyer (2002, 4) cho rằng “mức độ bền vững tài chính là khả năng của một TCTCVM tạo ra doanh thu để trang trải chi phí hoạt động, chi phí tài chính và các chi phí phát sinh trong quá trình tăng trưởng”. Hai chỉ tiêu quan trọng (LUAN.nam luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.nam 3 nhất để đánh giá bền vững tài chính của các TCTCVM là tự vững về tài chính (FSS) và tự vững về hoạt động (OSS).
Một trong số những nghiên cứu tiên phong cho vấn đề tự bền vững phải kể đến nghiên cứu của Hollis và Sweetman (1998) khi so sánh 6 tổ chức tín dụng nhỏ của châu Âu thế kỷ 19, để xác định các thiết kế thể chế là điều kiện tiên quyết cho sự bền vững về mặt tài chính. Nghiên cứu cho thấy các tổ chức dựa vào nguồn tài trợ, từ thiện thì mong manh hơn và có xu hướng mất tập trung nhanh hơn so với các tổ chức nhận tiền từ người gửi tiền. Nghiên cứu sau của Hollis và Sweetman (2001) cho thấy các TCTCVM này bền vững về mặt tài chính trong hơn một thế kỷ bởi chúng thích nghi với môi trường kinh tế và tài chính. Đặc biệt, khảo sát nghiên cứu được chỉ ra bởi Hermes và Lensink (2007) chỉ ra là cần thiết phải có những nghiên cứu thêm về cơ chế giải thích kết quả tài chính của TCTCVM.
Hầu hết tài liệu về TCTCVM lúc đó về hiệu suất TCTCVM vẫn bị hạn chế bởi dữ liệu không đầy đủ và không đáng tin cậy và do đó mới chỉ sử dụng một số lượng hạn chế chỉ số làm thang đo khi đánh giá vê TCTCVM. Trong tài liệu thực nghiệm, các yếu tố giải thích tính bền vững của TCTCVM có thể được phân loại thành các yếu tố thuộc về TCTCVM và các yếu tố bên ngoài (Crabb, 2008). Các yếu tố bên ngoài là môi trường kinh tế vĩ mô, đặc trưng của ngành như điều kiện quy định, tập trung và điều lệ thành lập các TCTCVM. Có nhiều nghiên cứu đã xem xét các yếu tố quyết định về tính bền vững tài chính của các tổ chức TCVM.
Cull, Demirguc-Kunt và Morduch (2007) đã sử dụng số liệu của 124 TCTCVM trên 49 quốc gia để kiểm định hiệu quả tài chính và mức độ tiếp cận của các TCTCVM. Tác giả sử dụng hồi quy gộp (pooled regression model) để ước lượng mô hình với FSS được lựa chọn là thang đo cho chỉ tiêu tự vững về tài chính. Nghiên cứu cho thấy rằng tác động của các yếu tố thuộc về TCTCVM đến hiệu suất phụ thuộc vào phương pháp cho vay của tổ chức đó. Mặc dù nghiên cứu đi tiên phong trong việc sử dụng dữ liệu xuyên quốc gia và cung cấp cơ sở mới cho tài liệu hiện có về hoạt động của các tổ chức TCVM, nhưng việc sử dụng mô hình hồi quy gộp của nghiên cứu đã bỏ qua các tác động cố định và có thể dẫn đến việc sai lệch biến bị bỏ qua.
Hơn nữa, thay vì ước lượng với các hệ số chặn khác nhau cho từng đơn vị và/hoặc điểm thời gian, ước lượng hồi quy gộp chỉ có một hệ số chặn (Baltagi, 2008) Sử dụng số liệu của 217 TCTCVM trên 101 quốc gia phân theo khu vực và loại các tổ chức tài chính vi mô trong giai đoạn 1998-2006, Ayayi và Sene (2010) ước lượng một mô hình hồi quy gộp với FSS đại diện cho sự tự bền vững về tài chính. Kết quả của họ cho thấy chất lượng của danh mục cho vay là yếu tố quyết định chính đến bền vững tài chính của TCTCVM. Đồng thời, tuổi của các TCTCVM và tỷ lệ phần (LUAN.nam luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat (LUAN.nam 4 trăm phụ nữ trong nhóm khách hàng không ảnh hưởng đáng kể đến tự bền vững tài chính của các TCTCVM. Phát hiện tương tự với phát hiện trong ngiên cứu của Cull, Demirguc-Kunt và Morduch (2007).
Tuy nhiên, những nghiên cứu này bị các điểm yếu về phương pháp nghiên cứu do đó kết quả có thể chưa thực sự thuyết phục. Ahlin và các cộng sự (2011) ước lượng mô hình hồi quy tổng hợp với biến phụ thuộc là tự bền vững hoạt động (OSS). Kết quả cho thấy bối cảnh kinh tế vĩ mô có tác động đến bền vững hoạt động của TCTCVM. Trong khi đó, Cull, Demirguc-Kunt và Morduch (2007) kết luận rằng các TCTCVM vẫn có thể mở rộng mức độ tiếp cận mà không ảnh hưởng đến sự bền vững về mặt tài chính.
Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu vẫn chưa khắc phục được những điểm yếu về phương pháp nghiên cứu. Bogan (2009) điều tra tác động của các nguồn tài chính hiện có đối với hiệu quả và tự vững hoạt động (OSS) của TCTCVM. Tác giả tìm thấy bằng chứng của việc tăng cường sử dụng các khoản tài trợ của các TCTCVM sẽ làm giảm sự tự vững hoạt động.