Chương 1 - Giới thiệu chung đề tài “Các nhân tố tác động đến khả năng trả nợ vay đúng hạn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam”. Chương 2 – Cơ sở lý luận và lý thuyết nền tảng đáng giá khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân và các nghiên cứu trước đây. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu Chương 4 – Thực trạng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chương 5 – Kết luận và một số kiến nghị 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ LÝ THUYẾT NỀN TẢNG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết về khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân 2.1 Tổng quan về tín dụng cá nhân Cho vay ra đời và tồn tại khách quan xuất phát từ đòi hỏi giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên ở các chủ thể trong nền kinh tế. Theo quy định của pháp luật, cho vay được định nghĩa tại khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”.
Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại, Phan Thị Thu Hà (2009) cho rằng “Cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang khách hàng vay (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”. Có thể hiểu theo nghĩa chung nhất rằng cho vay là việc một bên thỏa thuận để cho bên khác được quyền sử dụng tài sản của mình trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở tín nhiệm của mình với bên còn lại. Trong hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại, nếu phân chia theo đối tượng khách hàng thì gồm có 2 loại, đó là cho vay khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng doanh nghiệp. Tuy nhiên để giới hạn nghiên cứu, tác giả chỉ tìm hiểu về cho vay đối với các khách hàng cá nhân ở trong luận văn này.
Mục đích đi vay của các khách hàng cá nhân, hộ gia đình (sau đây gọi chung là KHCN) thường là để đáp 8 ứng nhu cầu vốn: nhu cầu mua xe, xây nhà; mua sắm tiêu dùng.; các nhu cầu vốn về học tập, y tế, giáo dục và nhu cầu phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh. Như vậy, trên cơ sở những khái niệm đã tìm hiểu ở trên, có thể hiểu rằng cho vay khách hàng cá nhân là quan hệ cho vay mà ngân hàng thương mại chuyển giao vốn của mình tới các cá nhân, hộ gia đình với mức lãi suất và trong một thời gian nhất 7 định nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay sản xuất kinh doanh của chính các cá nhân, hộ gia đình đó.2 Đặc điểm của tín dụng cá nhân Cho vay đối với KHCN là một loại hình tín dụng, do đó nó cũng mang 3 đặc điểm chung của tín dụng: Dựa trên cơ sở lòng tin, đây là yếu tố tiên quyết trong quyết định cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại chỉ cho vay khi có niềm tin rằng khách hàng sẽ sử dụng vốn vay hợp pháp, đúng mục đích, có phương án sử dụng vốn hiệu quả và đủ khả năng tài chính để bảo đảm cho việc trả nợ trong thời gian cam kết. Đảm bảo tính hoàn trả cả về thời gian và giá trị: nguồn vốn cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại chủ yếu từ nguồn vốn huy động, do đó tất cả các khoản vay của ngân hàng cấp cho khách hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng có thể hoàn trả lại vốn huy động trong trường hợp khách hàng có yêu cầu.
Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn huy động của mình và chu kỳ luân chuyển vốn của khách hàng. Khi nguồn vốn ổn định thì ngân hàng có thể cho vay với thời hạn dài và ngược lại chỉ có thể cho vay với thời hạn ngắn. Về phía khách hàng, nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của khách thì khi đến kỳ trả nợ khách hàng chưa có nguồn để trả nợ, gây khó khăn cho khách hàng và việc thu hồi nợ đúng hạn cho ngân hàng, ngược lại thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn khách hàng rất có thể sử dụng vốn sai mục đích, gây nhiều rủi ro cho ngân hàng. Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc cả lãi: đây là thuộc tính riêng của cho vay, phân biệt cho vay với cho mượn.
Theo đó, trong thời gian vay hoặc kết thúc thời hạn vay người đi vay phải trả gốc và một khoản lãi theo lãi suất đã thỏa thuận khi ký kết hợp đồng tín dụng. Khoản lãi này đối với người vay là chi phí của việc sử dụng vốn vay, đối với ngân hàng là nguồn để trả lãi cho người gửi tiền, bù đắp chi phí hoạt động, cũng như tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. 8 Ngoài các đặc điểm chung của cho vay tại chi nhánh ngân hàng thương mại, đối với các khách hàng cá nhân, cho vay còn có các đặc điểm sau đây: Quy mô của mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn: không chỉ tài trợ cho mục đích vay sản xuất kinh doanh, đầu tư như đối với khách hàng doanh nghiệp, cho vay khách hàng cá nhân đa dạng hơn còn tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng (nhà ở, ô tô, giáo dục, y tế, mua sắm tiện nghi,. Giá trị mỗi khoản vay cá nhân không lớn do giá trị hàng hoá dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải, nhưng tổng quy mô cho vay KHCN của chi nhánh ngân hàng thương mại lại rất lớn, lý do là vì số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn lớn.
Lãi suất vay của khách hàng cá nhân thường cao hơn so với các khoản cho vay khách hàng là doanh nghiệp: nguyên nhân bởi vì chi phí cho vay khách hàng cá nhân tính trên mỗi đơn vị đồng vốn cho vay là lớn, mức độ rủi ro của khoản vay cao và kém nhạy bén với lãi suất, cụ thể: quy mô của mỗi khoản vay khách hàng cá nhân thường nhỏ thậm chí không đáng kể, trong khi ngân hàng cũng phải thực hiện các bước trong quy trình thu thập các thông tin liên quan đến quyết định cho vay bao gồm: tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ. Do đó, chi phí trong cho vay đối với KHCN cao hơn đối với khách hàng doanh nghiệp. Chi phí và rủi ro của khoản cho vay cá nhân cao hơn khoản cho vay doanh nghiệp nên nguyên tắc chung trong ấn định lãi suất của các ngân hàng là lãi suất đối với các khoản cho vay cá nhân cao hơn các khoản cho vay doanh nghiệp. Mức lợi nhuận trên 10 mỗi khoản cho vay cá nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM.
Cho vay khách hàng cá nhân tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao: cho vay khách hàng cá nhân bao giờ cũng tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao. Bởi đối tượng cho vay là các cá nhân, hộ gia đình có tình hình tài chính dễ thay đổi tuỳ theo tình trạng công việc và sức khoẻ của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân, hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, do đó khả năng cạnh tranh trên thị trường kinh doanh còn kém. Do vậy ngân hàng có thể sẽ phải đối mặt với rủi ro khi người đi vay bị thất nghiệp, gặp tai nạn hoặc phá sản.
Mặt 9 khác việc thẩm định và đưa ra các quyết định cho vay khách hàng cá nhân thường không đầy đủ về thông tin cũng là một trong những lý do dẫn đến tình trạng rủi ro tín dụng đối với các khoản vay khách hàng cá nhân.3 Rủi ro tín dụng từ các khoản vay khách hàng cá nhân Hoạt động cho vay là hoạt động mang lại tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu nghiệp vụ và đem lại phần lớn lợi nhuận cho của NHTM. Tuy nhiên, hoạt động cho vay cũng được xem là hoạt động có nhiều rủi ro và phức tạp nhất trong các nghiệp vụ ngân hàng do hoạt động này có liên quan chặt chẽ đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế và rủi ro trong các lĩnh vực này dẫn đến rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của NHTM. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng gồm nhiều loại: rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp. Tuy nhiên trong giới hạn nghiên cứu của luận văn này, tác giả chỉ quan tâm đến rủi ro tín dụng trong cho vay đối với KHCN.Lange (1995) định nghĩa “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn” (tr.260) Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH là tổn thất có khả năng xảy ra đối với NHTM do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu rủi ro tín dụng đối với KHCN là những rủi ro có thể phát sinh khi chi nhánh ngân hàng thương mại cấp tín dụng nhưng khách hàng cá nhân thực hiện không đúng nghĩa vụ. Cụ thể, khi ngân hàng cho vay thì “khách hàng không trả được nợ hoặc không trả được một phần nợ gốc hoặc một phần nợ lãi đúng với thời hạn cam kết”.