mở đầu đã nêu khái quát bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài, từ đó đưa ra các mục tiêu và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, đồng thời trình bày tóm lược các phương pháp, dữ liệu và phạm vi nghiên cứu. Chương hai tiếp theo sẽ tóm lược lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan. Chương ba trình bày cơ sở dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và mô hình kinh tế lượng. Chương bốn sẽ thảo luận về kết quả nghiên cứu và chương năm là gợi ý các chính sách và kết luận.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Cũng như nhiều nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập trong và ngoài nước trước đây, lý thuyết khung sinh kế bền vững được xem là lý thuyết nền tảng của nghiên cứu. Bên cạnh đó, ở chương này cũng đề cập đến một số khái niệm về đa dạng hóa, cũng như các quan điểm phân loại thành phần thu nhập và cách thức đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập của một số nghiên cứu trước đây. Một số mô hình nghiên cứu thực nghiệm có liên quan cũng được trình bày trong chương này.1 Lý thuyết khung sinh kế bền vững (Sustainable livelihoods framework - SLF) Lý thuyết Khung sinh kế bền vững được Amartya Sen (1981) xây dựng trong nghiên cứu về các quyền và mối quan hệ với nạn đói nghèo.
Lý thuyết này được Conway (1987) và Ashley và Carney (1998) thuộc Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (Department for International Development, UK - DFID) phát triển, sau đó được Scoones (1998); Anthony Bebbington (1999); Koos Neefjes (2000) và Ellis (2000) tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi. Conway (1987) định nghĩa về sinh kế như sau: “Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống: sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu với và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn.” Khung sinh kế bền vững trình bày các nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, và mối quan hệ điển hình giữa các nhân tố này. Các nhân tố đó bao gồm: (1) tài sản sinh kế; (2) chiến lược sinh kế là sự tập hợp của các hoạt động nhằm tạo ra các phương tiện, các nguồn thu nhập cho sự tồn tại và phát triển của các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- nông hộ; (3) kết quả sinh kế; (4) chuyển đổi cấu trúc và qui trình và (5) các bối cảnh bị tổn thương (cú sốc, xu hướng, sự dao động theo thời vụ). Ba nhân tố đầu là tài sản sinh kế, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế có mối quan hệ nhân quả và chịu sự tác động bởi các nhân tố bên ngoài là hai nhân tố cơ chế - chính sách và các bối cảnh bị tổn thương.
TÀI TÀI SẢN SẢN SINH SINH KẾ KẾ CẤU CẤU TRÚC TRÚC VÀ VÀ QUÁ TRÌNH Kết Kết quả quả Môi QUÁ TRÌNH Môi sinh sinh kế kế trường trường bị bị tổn Con Con người Cấu Quá -- Tăng tổn thương người Ảnh Cấu Quá Tăng thu thu thương Ảnh trúc trình CHIẾN nhập hưởng CHIẾN nhập -- Các hưởng LƯỢC LƯỢC - Tăng sự Các cú cú Xả Xả hội hội Tự Tự nhiên và - Các - Luật lệ, nhiên và khả ổn sốc sốc khả cấp cấp -- Chính Chính SINH SINH ổn định định -- Các năng năng KẾ KẾ -- Nâng Các chính sách Nâng khuynh tiếp tiếp chính sách khuynh -- Văn cao cao an an hướng hướng Vật cận quyền quyền Văn Vật chất chất Tài Tài chánh chánh cận toàn -- Tính Tính -- Đơn Đơn hóa hóa toàn thời vị tư vị tư -- Thể Thể chế chế lương lương thời vụ vụ -Tổ thực. nhân -Tổ chức chức -- Sử Sử dụng dụng bền vững bền vững hơn hơn các các nguồn lực tự tự nhiên nhiên Hình 1. Khung sinh kế bền vững (Nguồn DFID, 1999) 2.1 Tài sản sinh kế Theo DFID (1999), phương pháp tiếp cận sinh kế tìm cách đạt được một sự hiểu biết chính xác và thực tế những điểm mạnh của con người (tài sản, nguồn lực vốn) và sự cố gắng của họ để chuyển đổi những điểm mạnh này thành các kết quả sinh kế tích cực. Tài sản sinh kế bao gồm những nguồn lực và khả năng con người có được.
Tài sản sinh kế được thể hiện quả năm loại vốn là vốn con người, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn tự nhiên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- (1) Vốn con người đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế. Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là nhân tố về số lượng và chất lượng lao động của hộ; nhân tố này khác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của hộ, trình độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức về các cấu trúc sở hữu chính thống và phi chính thống (như các quyền, luật pháp, chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, các thủ tục); (2) Vốn xã hội nghĩa là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng; (3) Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế; (4) Vốn tài chính ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà con người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình; (5) Vốn tự nhiên là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạo dựng sinh kế. Có rất nhiểu nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên bao gồm cả các nguồn lực đất đai.2 Chiến lược sinh kế Chiến lược sinh kế là các khả năng phối hợp các hoạt động, các sự lựa chọn để tối ưu hóa việc sử dụng các tài sản sinh kế hiện có của nông hộ nhằm đạt được các mục tiêu của nông hộ như các hoạt động sản xuất, hoạt động đầu tư và hoạt động tái sản xuất.
Chiến lược sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào tình trạng tài sản, các chính sách, các tổ chức và quy trình cũng như bối cảnh tổn thương. Scoones (1998) trong chương trình nghiên cứu về khung sinh kế bền vững cho rằng dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau, nhiều kiểu chiến lược và hoạt động sinh kế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- được xác định như thâm canh/quảng canh nông nghiệp, đa dạng hóa và di cư. Thâm canh là việc tăng gia sản xuất nhiều sản lượng hơn trên một đơn vị canh tác; quảng canh là việc tăng sản lượng do tăng diện tích canh tác. Đa dạng hóa là việc xây dựng một danh mục các hoạt động đầu tư để tạo thu nhập nhằm ứng phó với rủi ro gây biến động thu nhập.
Di cư là việc di chuyển để tìm kế sinh nhai ở nơi khác.3 Kết quả sinh kế Kết quả sinh kế là những thành tựu hoặc kết quả của chiến lược sinh kế, chẳng hạn như thu nhập cao hơn, tăng hạnh phúc, giảm thiểu rủi ro, an ninh lương thực được cải thiện và sử dụng bền vững hơn của tự nhiên nguồn lực.4 Sự chuyển đổi cấu trúc và quy trình Sự chuyển đổi cấu trúc và quy trình là các tổ chức, chính sách và pháp luật để định hình sinh kế. Sự chuyển đổi cấu trúc và quy trình quyết định việc tiếp cận đến các loại hình cơ bản, chiến lược sinh kế và chủ thể ra quyết định; sự trao đổi giữa các tài sản sinh kế khác nhau; và lợi tức cho bất kỳ chiến lược sinh kế nào.5 Bối cảnh bị tổn thương Bối cảnh bị tổn thương xuất hiện khi con người phải đối mặt với mối đe dọa độc hại, các cú sốc mà không đủ năng lực ứng phó hiệu quả. Bối cảnh bị tổn thương thể hiện môi trường bên ngoài trong đó mọi người tồn tại. Đó là mức độ tiếp xúc với sự rủi ro và sự không chắc chắn, và là năng lực của các hộ gia đình hay cá nhân để ngăn ngừa, giảm nhẹ hoặc đối phó với rủi ro.
Các nhân tố tài sản sinh kế và chiến lược sinh kế là nhân tố bên trong, phụ thuộc nội tại của con người. Các nhân tố bên ngoài gồm bối cảnh bị tổn thương và cơ cấu kinh tế, cơ chế và chính sách. Kết quả sinh kế sẽ có tác động ngược lại vào tài sản sinh kế. Phương pháp tiếp cận sinh kế tìm cách đạt được một sự hiểu biết chính xác và thực tế những điểm mạnh của con người (tài sản, nguồn lực vốn) và khả năng của họ để chuyển đổi những điểm mạnh này thành các kết quả sinh kế tích cực.
Trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - bối cảnh dễ bị tổn thương và sự hạn chế đối với việc tiếp cận với các loại hình tài sản sinh kế nhất định, con người phải tìm cách tăng trưởng và kết hợp những tài sản mà họ có một cách sáng tạo để đảm bảo sự sống, tồn tại và phát triển. Điều này phụ thuộc vào sự lựa chọn chiến lược sinh kế. Một trong những chiến lược sinh kế quan trọng hiện nay chính là đa dạng hóa.2 Đa dạng hóa sinh kế và đa dạng hóa thu nhập Theo Scoones (1998), đa dạng hóa là việc tham gia các hoạt động đầu tư đa dạng để tích lũy và tái đầu tư, nhằm mục đích đối phó với các cú sốc tạm thời hoặc thích ứng lâu dài hơn với các hoạt động sinh kế. Đa dạng hóa là việc xây dựng một danh mục đầu tư tạo thu nhập để xử lý các cú sốc hoặc căng thẳng.
Trong nghiên cứu về đa dạng hóa sinh kế ở các nước đang phát triển của Ellis (2000) thì đa dạng hóa sinh kế nông thôn được định nghĩa như là “một quá trình mà nhờ đó hộ nông thôn xây dựng một danh mục đa dạng các hoạt động và tài sản để tồn tại và để cải thiện mức sống của họ”. Đa dạng hóa là sự thay đổi bản chất của nghề nghiệp toàn thời gian chứ không phải là một cá nhân hoặc gia đình sở hữu nhiều ngành nghề.