PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Ngày nay, tuổi dậy thì ở vị thành niên xảy ra sớm hơn, hiện tượng này có thể được giải thích là do điều kiện sinh hoạt vật chất được cải thiện đáng kể làm cho sự phát triển thể chất của trẻ em ngày nay thuận lợi hơn và nhanh hơn trước đây, thêm vào đó là những sách báo, văn hóa phẩm, phim ảnh, internet kích thích sự tò mò của trẻ em cũng làm cho tốc độ phát triển có chiều hướng tăng nhanh hơn. Điều đáng quan tâm ở đây là: về thể chất, các em phát triển rất mạnh nhưng về kinh nghiệm sống và cách xử thế lại còn rất chậm. Với một thể xác cao to, tràn đầy sức sống nhưng các em lại chưa hiểu biết đầy đủ về chính mình và chưa có kinh nghiệm phòng tránh những tác động xấu của môi trường sống.
Điều này đặc biệt đúng trong những vấn đề có liên quan đến tình dục và sức khỏe sinh sản. Tình yêu học đường bùng nổ, sinh hoạt tình dục ở một bộ phận vị thành niên đang diễn ra với mức độ khác nhau có xu hướng gia tăng tạo ra hậu quả xấu như có thai sớm, phá thai, mắc các bệnh lây qua đường tình dục (kể cả HIV/ AIDS). Những hậu quả xấu này tác hại trực tiếp ngay cho lớp trẻ và để lại mối lo âu cho phát triển các thế hệ mai sau. Thiếu hụt kiến thức về sức khỏe sinh sản và kỹ năng sống là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến số lượng mang thai ở tuổi vị thành niên ngày càng tăng cao.
Điều này ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe và khả năng học tập của thanh thiếu niên. Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, bình quân mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai ở độ tuổi 15-19 trong đó 80-90% là học sinh, sinh viên cao nhất so với các nước Đông Nam Á và thứ 5 thế giới, và tỷ lệ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm. Việc mang thai ở tuổi vị thành niên để lại những hệ lụy và hậu quả nặng nề do các bà mẹ nhỏ tuổi còn quá trẻ, thể chất và tinh thần chưa phát triển để sẵn sàng làm mẹ. Giáo dục sức khỏe sinh sản dường như vẫn là một khái niệm mới trong xã hội Việt Nam.
Ở nhiều gia đình, các bà mẹ không giải thích được cho con những điều căn bản nhất về việc giáo dục sức khỏe sinh sản cho con cái. Cha mẹ cũng chưa hiểu được rằng nhu cầu tìm hiểu về sức khỏe sinh sản của con cái là điều tự 2 nhiên, cần thiết và tất yếu nên họ không giáo dục cho con về vấn đề này, nhiều người hiểu vấn đề nhưng vì ngại nên không muốn nói ra. Ở nước ta, giáo dục sức khỏe sinh sản không được hiểu theo đúng nghĩa của nó. Gia đình Việt Nam ngày nay còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến và bởi vậy, việc giáo dục sức khỏe sinh sản hạn chế trong những lời răn dạy về đạo đức.
Hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản phổ biến trong các gia đình chỉ dừng lại ở góc độ dạy vệ sinh thân thể ở tuổi dậy thì. Với nhiều bậc phụ huynh, giáo dục tình dục hầu như chưa bao giờ được đặt ra. Trên thực tế đã có nhiều trường hợp các em nam phạm tội hiếp dâm, các em nữ có thai ở tuổi vị thành niên. Nhiều trẻ ở lứa tuổi 14-15, còn cắp sách đến trường, chưa có kinh nghiệm về cuộc sống gia đình nhưng đã phải làm cha mẹ do thiếu hiểu biết về tình dục.
Đây là vấn đề làm đau đầu người lớn và người ta cho rằng nguyên nhân là do tác động từ kinh tế thị trường, sự du nhập của văn hóa từ bên ngoài, chạy theo lối sống ăn chơi, suy đồi về mặt đạo đức. Được biết trong một cuộc khảo sát gần 4700 thanh niên chỉ có 2,6% cho biết kiến thức về giới tính được bố mẹ giáo dục. Trung tâm nghiên cứu tâm lý và sự phát triển nhanh của thanh thiếu niên giải thích: “Các bậc phụ huynh luôn cho rằng những vấn đề liên quan tới sức khỏe sinh sản rất tế nhị. Mặt khác, con mình còn quá nhỏ để tìm hiểu về những vấn đề ấy.
Có khi chính phụ huynh cũng không nắm rõ kiến thức về sức khỏe sinh sản để diễn đạt cho con mình hiểu”. Chính vì thế mà nhiều trường hợp đáng tiếc đã xảy ra như: Con thủ dâm quá mức, quan hệ tình dục trước tuổi trưởng thành, mắc các bệnh lây lan qua đường tình dục… Bố mẹ thường tránh né, ngại ngùng khi trẻ hỏi về chuyện tình dục. Chính vì các quan niệm sai lầm đó của các bậc phụ huynh mà không ít lần người lớn “đỏ mặt” trước các thắc mắc của trẻ. Về phía nhà trường hiện nay những trường hợp nữ học sinh trở thành mẹ hay những cái chết thương tâm bởi bản thân vướng vào con đường tình yêu, tình dục quá sớm… không còn xa lạ.
Đó là hệ quả tất yếu từ việc “xem nhẹ” chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản trong trường học hiện nay. Chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản hay bị bố mẹ né tránh cho rằng việc của nhà trường. Nhưng thực tế hiện nay ở trường học, việc giáo dục sức khỏe sinh sản chưa được thực hiện đến nơi đến chốn nên học trò đang phải tiếp cận kiến thức một cách “nửa vời”. Vì vậy cha mẹ phải quan tâm đến 3 con cái ở lứa tuổi này để nhận biết đúng sự thay đổi của con cái để có sự uốn nắn kịp thời.
Để cho các em ít hoang mang lo lắng trước sự thay đổi của bản thân, bởi vậy việc giáo dục sức khỏe sinh cho các em là hết sức cần thiết. Cũng như giáo dục nói chung, giáo dục sức khỏe sinh sản phải được tiến hành có phân hoá tuỳ theo từng lứa tuổi, có khối lượng và hình thức phù hợp để đứa trẻ có thể nhận thức được. Muốn giáo dục đúng thì các bậc cha mẹ phải nắm bắt được và biết tất cả các giai đoạn phát triển thông thường và những dấu hiệu không bình thường để cho đứa trẻ sớm có những hiểu biết về bản thân của mình thì ngay từ lúc đang còn nhỏ. Chúng ta cần đưa nội dung sức khỏe sinh sản để giáo dục cho học sinh.
Bên cạnh những chương trình học ở nhà trường, các em cần có những thông tin rõ ràng, dễ hiểu về sự phát triển giới tính, sức khỏe sinh sản và kế họach hóa gia đình, những vấn đề về giới tính và bình đẳng giới, về những bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục, như HIV/AIDS, càng sớm càng tốt. Nâng cao nhận thức cho học sinh THPT về sức khỏe sinh sản để các em không quan hệ tình dục sớm và các em biết trì hoãn quan hệ tình dục đến sau hôn nhân, khi quan hệ tình dục thì hãy chọn biện pháp an toàn và có trách nhiệm. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) tại một số Trường Trung học Phổ thông (THPT) ở nội và ngoại thành Tp. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản, từ đó đề tài hướng tới việc nâng cao nhận thức đối với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản cho các em.
Nhiệm vụ nghiên cứu: 3. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài. Khảo sát thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 đối với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của học sinh lớp 10 THPT đối với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu: 4. Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 đối với nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản. Khách thể nghiên cứu: Học sinh ở một số trường THPT nội và ngoại thành Tp. Giả thuyết nghiên cứu: Nhận thức của học sinh lớp 10 ở một số trường nội và ngoại thành Tp.HCM đối với nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản chưa đầy đủ và không có sự đồng đều.
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: - Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng nhận thức của học sinh lớp 10 THPT về một số nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại một số trường THPT nội và ngoại thành Tp. - Về mặt nhận thức, chúng tôi chỉ khảo sát về vốn hiểu biết của các em đối với một số nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, một số kiến thức cụ thể về sức khoẻ sinh sản và nhận thức về sự cần thiết của nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu như sau: 7.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận: Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 7.2 Những phương pháp nghiên cứu thực tiễn: *Phương pháp bảng thăm dò ý kiến: + Mục đích phương pháp này nhằm giải quyết nhiệm vụ tìm hiểu thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh PTTH đối với nội dung giáo dục sức khoẻ sinh sản. * Phương pháp toán thống kê: + Mục đích: Dùng phương pháp tóan thống kê để xử lý các số liệu điều tra để định hướng các kết quả nghiên cứu.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới SKSS là một vấn đề của đời sống giới tính của con người nên nó được quan tâm từ khá lâu. “Ngay từ thời Cổ đại, giới tính đã được quan tâm tìm hiểu rất thô sơ, mang màu sắc cảm tính bằng một hệ thống thần thoại cổ đại và các khảo luận về tình yêu như “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệ thuật yêu” của Ovidious,“Chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr” và “ Bữa tiệc” của Platon…Trong đó các tác giả “không những đặt cơ sở các chuẩn mực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu, mà còn cố gắng cung cấp những kiến thức về sinh học và tâm lý học tình dục”.
[26] Công tác nghiên cứu khách quan các vấn đề về giới tính, tính dục chỉ thật sự được tiến hành ở thời kì Phục hưng, khi bộ môn Giải phẫu và Sinh lý bắt đầu phát triển.