Chương 1: Giới thiệu – Nêu lên ý định, mục tiêu và mục tiêu nghiên cứu của tác giả. Đồng thời xác định nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn. Chương 2: Tình hình nghiên cứu và phân tích tổng quan lý thuyết – Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, những lý thuyết liên quan đến luận văn này. Chương 3: Nhận dạng vật thể – Tác giả sẽ trình bày sơ lược về phương pháp sẽ được sử dụng trong luận văn và cách thức thực hiện luận văn.
Nội dung của các công việc được làm sẽ trình bày ở chương này. Chương 4: Kiểm chứng và đánh giá đề tài – Trong chương này, tác giả trình bày phương pháp kiểm chứng cho hệ thống tạo ra và kết quả của quá trình kiểm chứng, từ đó đưa ra đánh giá về hệ thống đã tạo ra. Chương 5: Kết luận và kiến nghị - Trong chương này, tác giả tóm tắt lại kết quả đạt được, ưu điểm, nhược điểm của hệ thống và đóng góp của luận văn (gồm có đóng góp khoa học và đóng góp thực tiễn). Ngoài ra, tác giả còn nêu lên hướng mở rộng và kiến nghị cho phương pháp BoW.
5 CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Với sự hạn chế về thời gian và kiến thức, tác giả cố gắng thu thập, nghiên cứu và trình bày trong chương 2 một cách tổng quan các giải thuật, lý thuyết liên quan và các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung của luận văn. Trong đó các giải thuật trích xuất đặc trưng SIFT, chia cụm K- Means và máy học SVM sẽ được tác giả sử dụng để thực hiện nhận dạng vật thể ở chương kế tiếp.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2.1 Nghiên cứu ngoài nước 1- Phương pháp dựa trên hình học (Geometry-Based): 1960 – 198x Đây là phương pháp được sử dụng ở thời kì ban đầu của lĩnh vực nhận dạng (vào khoảng những năm 1960 đến trước 1990). Phương pháp này nhận dạng chủ yếu dựa vào đặc điểm hình học của vật thể. Hình dạng của vật thể được trích xuất thành các hình học dưới dạng 3D và được đưa đi nhận dạng.
Một vài công trình nghiên cứu có thể kể đến như sau: Năm 1962, Ming-Kuei Hu [1] đưa ra một phương pháp nghiên cứu sơ khai cho nhận dạng bằng đặc điểm hình học của vật thể. Đây được xem là một công trình khởi xướng cho lĩnh vực nhận dạng dựa trên hình học của vật thể. Năm 1965, Lawrence Roberts [2] đã giới thiệu một máy học mà có thể chuyển đổi một vật thể khối thành một vật thể được mô tả dưới dạng hình học 3D. Sau đó, một giải thuật nhận dạng được giới thiệu năm 1965 của cùng tác giả [3], giải thuật này là tạo ra một thư viện các hình học cơ bản mà có thể lắp ghép với nhau để tạo thành hình học của một vật thể.
Giải thuật này trở thành tâm điểm chính cho lĩnh vực nhận dạng suốt bốn thập kỉ sau đó. Một trong những phương pháp dựa trên hình học của vật thể này nữa là nhận diện bằng những thành phần - Recognition-by-Components, 1987 [4]. Dựa vào năm đặc tính dễ dàng nhận biết của các đường (hay cạnh) trong bức ảnh hai chiều của Lowe, 1984 [5]: độ cong, độ thẳng, đặc tính đối xứng, đặc tính song song và đặc tính liền kề. Tóm lại, phương pháp nhận dạng này có những khuyết điểm sau như: chất lượng nhận dạng phụ thuộc vào quá trình trích xuất các cạnh hình học (đường thẳng, 7 đường cong…) của vật thể, vật thể nhận dạng không được phức tạp quá (về mặt hình học) và tạo cơ sở dữ liệu cho vật thể được làm một cách thủ công [6].
2- Phương pháp dựa trên sự xuất hiện (Appearance Based): 199x Phương pháp này được thực hiện bằng cách cách ghi nhớ các lần xuất hiện của một vật thể đã xảy ra. Các nghiên cứu chính cho phương pháp này như: Matthew Turk và Alex Pentland, 1991 [7] đã thực hiện phương pháp này để phát hiện phần đầu của một vật thể và sau đó nhận diện xem đó có phải là khuôn mặt hay không. Tác giả đã sử dụng biện pháp ghi nhớ lại hàng nghìn khuôn mặt xuất hiện trong cuộc sống bình thường của tác giả, và sử dụng nó cho việc nhận dạng khuôn mặt dựa vào những dữ liệu đã được thu thập được. Hay nhận dạng bằng cách đánh dấu hình ảnh của Hiroshi Murase và Shree K.
Cách thực hiện này là ta thu thập một số lượng lớn các bức ảnh với các góc chụp và kích thước khác nhau. Sau đó các bức ảnh này được nén lại theo một cách thức riêng và cho vào một cơ sở dữ liệu. Trong quá trình nhận dạng thì ảnh đầu vào được trích ra một phần để so sánh với ảnh trong cơ sở dữ liệu, xem phần đó có thuộc về vật thể có trong cơ sở dữ liệu hay không và nó thuộc về góc chụp nào. Phương pháp nhận dạng dựa trên sự xuất hiện có một ưu thế là ta không cần trích xuất đặc trưng của một bức ảnh.
Nhưng chúng lại yêu cầu các ảnh huấn luyện phải được tách khỏi cảnh nền. Ngoài ra, chúng cũng yêu cầu số lượng lớn của hình ảnh mẫu cho quá trình học và các hình ảnh ngõ vào không bị che khuất hay nền hỗn loạn quá nhiều. 3- Phương pháp Bags of Words: 2003-2012 Năm 1999, Lowe cho ra đời giải thuật tìm và mô tả điểm ảnh đặc trưng cục bộ trên bức ảnh mà bất biến với ánh sáng, kích thước và góc chụp của bức ảnh – SIFT 8 (Scale-Invariant Feature Transform) [9]. Đây là giải thuật mà được ứng dụng rất rộng rãi trong các lĩnh vực xử lý ảnh.
Kể từ khi giải thuật này ra đời đã tạo ra 2 hướng cho phương pháp nhận dạng dựa vào đặc trưng cục bộ. Đó là tìm điểm tương thích (Matching) và Bags of Feature (BoF). Trong cùng thời điểm giải thuật SIFT ra đời, Lowe đã ứng dụng cho giải thuật nhận dạng mới. Giải thuật này sử dụng phương pháp tìm điểm tương thích.
Tìm những điểm đặc trưng giống nhau của bức ảnh đầu vào trong cơ sở dữ liệu. Một hướng khác nữa là BoF, phương pháp này khác với phương pháp tìm điểm tương thích là ta phải tạo ra bộ từ điển trực quan và sử dụng nó để mô tả số lượng điểm đặc trưng trong bức ảnh. Trong quá trình nhận dạng ta chỉ cần xét số lượng điểm đặc trưng là có thể kết luận vật thể có trong bức ảnh hay không. Một kết quả nghiên cứu theo phương pháp BoF là: Gabriella Csurka [10] và các tác giả đã thực hiện giải thuật nhận dạng theo phương pháp BoF năm 2004.
Các điểm đặc trưng của ảnh huấn luyện được trích xuất từ giải thuật SIFT và đem đi huấn luyện để tạo bộ từ điển trực quan. Trong quá trình nhận dạng các tác giả lại trích xuất điểm đặc trưng lần nữa cho ảnh đầu vào và lượng tử các điểm đặc trưng thành các từ ngữ. Các từ ngữ này được đưa vào một máy học khác để đưa ra quyết định trong ảnh có chứa vật thể hay không. Ưu điểm của phương pháp BoF là đặc trưng của bức ảnh và bộ từ điển trực quan được tính hoàn toàn tự động.
Phương pháp BoF còn có ưu điểm nữa là các đối tượng bị che khuất và nền của bức ảnh hỗn loạn vẫn có thể nhận dạng được. Do ta chỉ xét sự xuất hiện của vật thể trong bức ảnh dựa vào số lượng điểm đặc trưng chứ không bị phụ thuộc vào hình dáng của vật thể. Trong nhiều công trình nghiên cứu, không chỉ có trích xuất đặc trưng theo giải thuật SIFT mà còn có các giải thuật khác như: SURF, RIFT. Mặc dù khác nhau về 9 cách thức sử dụng giải thuật trích xuất đặc trưng nhưng những công trình này vẫn mang tính chất của phương pháp BoF.
4- Phương pháp máy học sâu (deep learning hoặc DNN) Năm 2006, máy học sâu có tổ chức (deep learning) xuất hiện một cách phổ biến. Có vài nghiên cứu về máy học sâu này như “A fast learning algorithm for deep belief nets” của Hinton và các tác giả [11], hay “Learning deep architectures for AI” của Bengio [12]. Đây là một khởi đầu cho sự ứng dụng máy học sâu vào nhiều lĩnh vực. Đầu tiên là các ứng dụng trong xử lý âm thanh.
Có thể kể đến nghiên cứu của Hinton và các tác giả năm 2012 [13]. Sau đó, nó tiếp tục đóng góp trong lĩnh vực nhận dạng giọng nói rất nhiều sau vài năm phát triển. Trong lĩnh vực nhận dạng vật thể, máy học sâu lần đầu được giới thiệu bởi nhóm của Hinton [14] trong cuộc thi ILSVRC (ImageNet Large Scale Visaul Recogni- tion Challenge) năm 2012. Thông qua kết quả của nhóm Hinton, cho thấy sự vượt trội của phương pháp nhận dạng bằng máy học sâu so với các phương pháp trước đó.
Trong các cuộc thi ILSVRC sau đó, nhận dạng bằng phương pháp máy học sâu được nhiều người sử dụng. Các người giành chiến thắng trong cuộc thi đều sử dụng phương pháp máy học sâu này. Điểm tối ưu của phương pháp này là nó có thể học từ số lượng rất lớn các ảnh mẫu đem huấn luyện và nó cho kết quả nhận dạng với độ chính xác rất cao. Và hiện nay, lĩnh vực nhận dạng vật thể sử dụng phương pháp máy học sâu đang được quan tâm chính.
Nó được nhiều sự đầu tư vào nghiên cứu của các người nghiên cứu do độ chính xác cao của nó.2 Nghiên cứu trong nước Hiện tại các công trình nghiên cứu trong nước về lĩnh vực nhận dạng là rất hạn chế. Chỉ có vài sinh viên, học viên cao học thực hiện đề tài nhận dạng làm khoá luận tốt nghiệp hay các nhà khoa học viết báo cáo đề tài khoa học. Các nghiên cứu theo hai hướng chính như sau: 1- Phương pháp nhận dạng dựa vào đặc trưng cục bộ: Phương pháp này được thực hiện bởi luận văn của Đặng Đức Duy năm 2014 [15]. Giải thuật này được tác giả thực hiện thông qua hai bước: đầu tiên tác giả trích xuất đặc trưng cho bức ảnh bởi giải thuật SURF, sau đó tác giả đem các đặc trưng đi so khớp (matching) với các ảnh khác trong cơ sở dữ liệu.
2- Phương pháp dựa trên hình học (Geometry-Based): Luận văn của Đỗ Ngọc Hùng năm 2004 [16] đã thực hiện theo phương pháp này. Tác giả đã phân tích hình học của vật thể bằng cách tách cạnh cho bức ảnh để tìm các đặc trưng của vật thể thông qua các cạnh đã tách được và đem nó đi nhận dạng.