CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1.1 Khái quát luận về truyền thuyết dân gian 1.1 Định nghĩa Do thường xuyên phải đấu tranh với giặc ngoại xâm và chống đỡ những bất công, áp bức từ bên trong mà chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta có những biến động lớn. Với vai trò phản ánh, lý giải lịch sử, truyền thuyết đã song hành, thậm chí bù đắp những thiếu sót cho chính sử nên dễ hiểu vì sao truyền thuyết đã phát triển mạnh mẽ, liên tục và được coi là thể loại quan trọng của văn học dân gian Việt Nam. Trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi cho rằng: Truyền thuyết là “Một thể loại truyện dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kỳ, một bộ tộc, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương (ví dụ: truyền thuyết Thánh Gióng, về An Dương Vương, về Hai Bà Trưng về Lê Lợi,…) [6,367].
Cũng đưa ra định nghĩa về truyền thuyết nhưng tác giả Nguyễn Bích Hà trong giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” lại có cách diễn đạt khác: “Truyền thuyết là truyện kể về những nhân vật và sự kiện hư cấu hay xác thực, có liên quan - ảnh hưởng tới lịch sử trọng đại của dân tộc hay giai cấp, qua đó nhân dân thể hiện được ý thức và thái độ đối với nhân vật và sự kiện lịch sử” [5,49-50]. Trong “Văn học dân gian Việt Nam (Tập 2)”, giáo sư Hoàng Tiến Tựu đã đưa ra nhận định: “Phản ánh, nhận thức và lí giải lịch sử (bao gồm lịch sử của bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, quốc gia)” và “chủ yếu hướng vào những sự kiện, những biến cố lịch sử có ý nghĩa trọng đại và những nhân vật lịch sử nổi lên trong những sự kiện, những biến cố ấy [16,24] là truyền thuyết. Trong “Văn học dân gian Việt Nam”, nhóm tác giả Lê Chí Quế (chủ biên) 11 - Võ Quang Nhơn - Nguyễn Hùng Vĩ đã dẫn trích định nghĩa về truyền thuyết của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi trong lời tựa “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” như sau: “Truyền thuyết thường dùng để chỉ những câu chuyện cũ, những sự việc lịch sử còn được quần chúng truyền lại nhưng không đảm bảo về mặt chính xác có thể do truyền rộng mà sai lạc, cũng có thể do sự tưởng tượng của quần chúng phụ họa thêu dệt mà càng sai lạc hơn. Và truyền thuyết phần nhiều chưa được xây dựng thành truyện.
Nó mới chỉ là những mẩu chuyện. Nếu nó phát triển tới mức hoàn chỉnh thì tùy theo nội dung nó có thể trở thành cổ tích hay thần thoại. Còn xét về nghệ thuật và ý nghĩa thì hoàn toàn giống cổ tích hay thần thoại. Hiện nay truyền thuyết Việt Nam tìm được còn rất ít ỏi, đượm khí vị cổ tích nhiều hơn thần thoại.
Vì vậy khi sưu tầm thì xếp lẫn vào cổ tích coi như truyện cổ tích” [13,46]. Nhóm tác giả cũng trích dẫn ý kiến của nhà nghiên cứu Phan Trần trong bài “Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử”: “Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự vật và nhân vật có liên quan đến lịch sử. Những nhân vật và sự việc đó thường được phản ánh qua trí tưởng tượng của con người, qua sự hư cấu của nhân dân” [13,47-48]. Bên cạnh việc trích dẫn nhận định của những người đi trước, nhóm tác giả cũng đưa ra định nghĩa cụ thể: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ.
Không nhằm đưa ra định nghĩa về truyền thuyết nhưng ý kiến Thủ tướng Phạm Văn Đồng - nhân ngày Giỗ Tổ của vua Hùng được đăng trong báo Nhân Dân (số 549, ngày 29.1969) cũng góp ích rất nhiều cho các nhà nghiên cứu trong quá trình xác định bản chất thể loại này. Thủ tướng cho rằng “Truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ, đã lý tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sư tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích” Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi đã sử dụng định nghĩa của tác giả Nguyễn Bích Hà (đã nêu ở trên) 12 1.2 Thời điểm ra đời Khi đề cập đến thời điểm ra đời của truyền thuyết, PGS.TS Vũ Anh Tuấn (chủ biên) trong giáo trình “Văn học dân gian” [15,72-74] đã nhận định: Truyền thuyết Việt Nam ra đời và phát triển trong thời đại anh hùng Việt Nam, thời đại mà những yếu tố lịch sử - xã hội của nó mang đặc trưng chung của thời đại anh hùng trong lịch sử nhân loại. Đó là thời kỳ con người bước ra khỏi đời sống dã man, bước vào chế độ văn minh đầu tiên. Thời kì được đánh dấu bằng những chiến công lao động và những biến đổi xã hội sâu sắc nên còn được gọi là thời kì của “thanh kiếm sắt, cái cày và cái rìu bằng sắt”.
Ở Việt Nam, nó được đánh dấu bằng sự kết thúc của thời kì tiền sử, sự khởi đầu của thời kỳ sơ sử, với sự hình thành của nhà nước Văn Lang đầu tiên, thuộc thời kỳ văn hóa kim khí mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn. Việc sử dụng công cụ kim loại được coi là một cách mạng kĩ thuật. Đồ đồng cực kỳ phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, thể hiện trình độ cao về kĩ thuật chế tác và năng khiếu thẩm mĩ dồi dào của chủ nhân nó như chiếc rìu, lưỡi cày đồng, xẻng, cuốc đồng, dao gặt…Công cụ sản xuất vô cùng phong phú và tiến bộ đã dẫn đến thành quả lao động được nâng cao, đời sống con người được cải thiện. Bên cạnh nhu cầu ăn, ở, người ta đã có nhu cầu thẩm mĩ không chỉ là ăn no, mặc ấm mà còn là ăn ngon, mặc đẹp, sinh hoạt tiện lợi.
Con người đã phần nào khám phá một số bí ẩn của thiên nhiên để phục vụ cộng đồng: sản xuất một số cây trồng theo mùa vụ, tìm ra một số giống cây quý, nhiều giống lúa nước và chế biến một số món ăn ngon từ gạo… Nhu cầu mở rộng thêm các vùng định cư và sản xuất, khai thác thêm các thị trường mới để trao đổi sản phẩm, khám phá đất hoang… ngày càng dâng cao trong cộng đồng. Chiến tranh giữa các bộ tộc xảy ra liên miên nhằm xâm lấn đất đai, mở rộng địa bàn, thôn tính lẫn nhau (dẫn đến sự hình thành các nhà nước đầu tiên). Các bộ lạc có xu hướng hoặc là thâu tóm lẫn nhau hay đoàn kết lại chống các bộ lạc lớn mạnh khác. 13 Hoàn cảnh đó đã tạo nên một không khí hào hùng cho thời đại mà Ăng - ghen nhận xét là: “thời đại mà mỗi thành viên nam giới của bộ lạc đến tuổi thành niên đều là những chiến binh…” Các thành viên trong cộng đồng có điều kiện bộc lộ phẩm chất anh hùng của mình, ý thức về lịch sử, dân tộc, chủ quyền lãnh thổ được nuôi dưỡng.
Xuất hiện các cá nhân anh hùng và tập thể anh hùng. Truyền thuyết ra đời nhằm tôn vinh sức mạnh, phẩm chất anh hùng, cộng đồng của mình. Nói ngắn gọn, truyền thuyết ra đời ở thời kỳ con người tiến vọt từ đồ đá sang đồ đồng sắt, từ hái lượm săn bắt sang trồng trọt lúa nước và định cư nông nghiệp, từ lối sống thô sơ đến sự ra đời của “nghề khéo” và “của ngon vật lạ” từ mẫu hệ sang phụ quyền, từ bộ lạc sang liên minh bộ tộc và nhà nước phôi thai, tóm lại từ dã man sang văn minh, ở trên vùng châu thổ Sông Hồng. Nếu thần thoại ra đời từ nhu cầu nhận thức của người nguyên thủy thì truyền thuyết ra đời từ nhu cầu tôn vinh, nhu cầu được tự hào về những chiến công vĩ đại cả về làm ăn, cả về chiến đấu của con người thời đại anh hùng.3 Phân loại Phân loại là một vấn đề khá phức tạp trong các khoa học nói chung trong văn học dân gian nói riêng.
Giới floklore (dịch ra là văn học dân gian) quốc tế khi phân loại truyền thuyết cũng đã cho thấy nhiều khuynh hướng khác nhau, chứng tỏ vấn đề quả là không đơn giản. Ở Việt Nam xoay quanh vấn đề này đã có không ít những ý kiến trái chiều. Theo tác giả Đỗ Bình Trị, có hai cách phân chia thể loại truyền thuyết như sau: Cách thứ nhất căn cứ theo quá trình lịch sử, vào phạm vi đề tài lịch sử được nhân dân quan tâm. Cách này chia truyền thuyết thành hai bộ phận: 1.
Những truyền thuyết về thời các vua Hùng 2. Những truyền thuyết về sau thời các vua Hùng (về anh hùng dân tộc, về danh nhân văn hóa, về anh hùng nông dân). 14 Cách thứ hai của tác giả Đỗ Bình Trị lại căn cứ vào sự khác biệt của đối tượng được truyện kể đến và chức năng cụ thể của từng bộ phận để chia: 1. Truyền thuyết địa danh (chủ yếu là giải thích tên đất) 2.
Truyền thuyết phổ hệ (chủ yếu vấn đề cội nguồn) 3. Truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử (mục đích tái hiện chính bản thân lịch sử - truyền thuyết lịch sử) Tác giả Lê Chí Quế trong “Văn học dân gian Việt Nam” [13,49] cũng phân chia truyền thuyết thành bốn tiểu loại và không biện luận gì thêm về tiêu chí, lý do phân loại: 1. Truyền thuyết lịch sử 2. Truyền thuyết anh hùng 3.
Truyền thuyết về các danh nhân văn hóa 4. Truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo Trong bộ giáo trình đại học, từ năm 1971, tác giả Kiều Thu hoạch phân chia làm hai loại lớn [7,79-80]: 1. Truyền thuyết nhân vật (căn cứ vào tính chất của câu chuyện mà chia ra thành hai tiểu loại khác nhau như: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết phản diện, truyền thuyết tôn giáo theo nghĩa rộng) 2. Truyền thuyết phong vật (phong tục và sinh vật) Gần đây tác giả Kiều Thu Hoạch tiếp tục điều chỉnh lại cách phân loại trước đó thành ba loại lớn gồm: 1.
Truyền thuyết nhân vật (truyền thuyết về anh hùng chống xâm lược, truyền thuyết anh hùng văn hóa, truyền thuyết anh hùng nông dân) 2. Truyền thuyết địa danh 3.