phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 8 tiết. 10 z CHƢƠNG 1 Ch. MONTESQUIEU VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI QUAN NIỆM NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN CỦA ÔNG 1. Thân thế và sự nghiệp của Ch.
Montesquieu Montesquieu sinh ngày 18/01/1689 trong một gia đình dòng dõi quý tộc lâu đời tại Boócđô ở Tây Nam nước Pháp. Cha ông là một quý tộc bị sa sút, không giàu có nhưng sống nhờ hoa lợi bên vợ. Mẹ ông xuất thân từ một dòng dõi quý tộc họ Penel người Anh. Mẹ của ông là một phụ nữ thông minh, rất sùng đạo và có thiên hướng bí ẩn.
Bà mất năm Montesquieu mới lên 7 tuổi. Người có ảnh hưởng tới Montesquieu nhiều hơn cả là người chú ruột của ông - Giăng đơ Sơcongđơ - người đã từng là Chủ tịch Nghị viện Boócđô. Montesquieu được học luật từ nhỏ. Khi còn là học sinh trung học, ông tỏ ra khá say mê văn học và triết học cổ điển.
Ngay sau khi tốt nghiệp đại học luật năm 1714, ông vào làm tại Nghị viện Boócđô với cương vị Nghị sĩ. Hai năm sau, ông trở thành Chủ tịch Nghị viện Boócđô do thừa hưởng chức vụ từ người chú của mình. Cùng năm đó ông trở thành thành viên của viện Hàn lâm Pháp. Chế độ phong kiến ở châu Âu nói chung và ở Pháp nói riêng trong giai đoạn này đang bước vào thời kỳ suy tàn và phản động.
Nhà nước chuyên chế lúc đó trở thành lực cản cho sự phát triển xã hội. Chính điều kiện sống và đặc biệt hơn 10 năm giữ cương vị làm Chủ tịch Toà án Boócđô đã giúp cho Montesquieu hiểu sâu sắc hơn về thực chất chế độ chuyên chế phong kiến đương thời ở Pháp. Năm 1728, Montesquieu quyết định từ bỏ các chức vụ để dành thời gian chuyên tâm vào công việc nghiên cứu lý luận. Ông đi tới nhiều nước ở châu Âu và lưu lại Anh hai năm cuối.
Trong thời gian ở Anh, ông có điều kiện tìm hiểu trực tiếp nền quân chủ lập hiến - một chính thể khác hẳn với chính thể quân chủ chuyên chế ở Pháp. Và quả thực “Một nước Anh mới 11 z thực trực tiếp hiện diện trong đời sống cộng đồng của Montesquieu trong thời gian đó, đã là chất liệu thực tiễn quý báu nữa cho công việc của tư tưởng gia này” [22, 85]. Montesquieu say sưa tìm hiểu và tỏ ra khá thích thú với nền quân chủ lập hiến ở Anh lúc bấy giờ. Điều khá thú vị là “tại Nghị viện Anh, người ta cho phép ông có mặt trong các cuộc tranh luận giữa Chính phủ và phe đối lập kéo dài tới 12 giờ.
Các tư tương về phân quyền của ông chín muồi ở Anh” [50, 688,689]. Năm 1731, ông trở lại lâu đài Brét tại Pháp và hoạt động nghiên cứu lý luận cho tới cuối đời. Montesquieu mất vào ngày 10/2/1755 khi ông ở tuổi 66. Nghiên cứu về cuộc đời Montesquieu, có nhiều ý kiến cho rằng: so với các nhà triết trước đó cũng như với các nhà triết gia đương thời thì cuộc đời Montesquieu tương đối “thành đạt và suôn sẻ”, bản thân ông cũng không trở thành đối tượng đàn áp của nhà nước chuyên chế.
Về điều này chúng tôi đồng ý với quan niệm của tác giả Lê Tuấn Huy khi cho rằng có lẽ tất cả những điều may mắn đó “chỉ nói lên được một điều, là điều kiện xuất thân của ông, mà không thể hiện những gì mà triết gia đầu tiên của thế hệ Khai sáng thứ nhất này đã đóng góp cho Khai sáng, với xuất phát điểm không chỉ là tinh thần phê phán đối với xã hội chuyên chế, mà còn là thái độ khai sáng công nhiên và có ý thức” [22,89]. Trong suốt hơn 60 năm của cuộc đời mình, Montesquieu đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị không chỉ trên lĩnh vực triết học, luật học mà cả trên lĩnh vực khoa học tự nhiên và văn chương. Tác phẩm đầu tiên đánh dấu con đường nghiên cứu lý luận của nhà Khai sáng thuộc thế hệ thứ nhất này phải kể tới Những bức thư Ba Tư năm 1721. Đây là tác phẩm văn chương thể hiện sâu sắc triết lý về con người, đạo đức, tôn giáo và nhà nước.
Tác phẩm ra đời gây chấn động dư luận không riêng chỉ ở Pháp mà còn cả ở châu Âu đương thời. Thông qua câu chuyện trao đổi thư của hai người Ba Tư gửi về quê nhà, Montesquieu đã cho công chúng thấy bộ mặt thật của vua Lui XIV. Đó là một ông vua sống xa hoa trên máu 12 z thịt của nhân dân, ông vua đó tuy “không có mỏ vàng như vua Tây Ban Nha láng giềng nhưng lại có của cải nhiều hơn, bởi vì của cải của ông được khai thác trong các hư danh của thần dân, là một thứ kho vô tận hơn cả mỏ vàng” [55, 161]. Chi tiết thú vị trong tác phẩm chính là thân phận người thái giám - người bị xã hội chuyên chế phương Đông tước đoạt quyền công dân của mình theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
Thông qua nhân vật này, Montesquieu đã đề cập tới những con người “mà trước quyền lực và phong tục, định kiến cổ hủ, thực tế đã bị làm cho kém đi, bị tước bỏ những quyền tự nhiên của mình, luôn lo sợ bị trừng phạt, không giám phản kháng” [22, 86]. Mặc dù dưới hình thức văn chương với hình ảnh ẩn dụ độc đáo nhưng theo chúng tôi, ở tác phẩm này Montesquieu đã bước đầu gián tiếp đề cập tới quyền tự nhiên của con người dù chưa nhiều. Ông đã thể hiện sự phê phán gay gắt nhà nước chuyên chế phong kiến tồn tại lâu đời ở cả phương Đông và phương Tây. Nhà nước đó không chỉ là lực cản đối với sự phát triển của xã hội mà còn là chế độ tước đoạt quyền công dân của con người bằng những tư tưởng bảo thủ và phản động.
Riêng về điều này chúng tôi đánh giá cao tinh thần cách mạng ở Montesquieu, bởi lẽ, không phải bất kỳ nhà quý tộc nào cũng có đủ bản lĩnh đứng lên phê phán chính chế độ sản sinh ra họ. Năm 1734, Montesquieu cho xuất bản tác phẩm Bàn về nguyên nhân hưng thịnh và suy vong của Rome. Trong tác phẩm này, Montesquieu lý giải về nguyên nhân hưng thịnh của người La mã. Theo ông: “Những chiến thắng; việc chấp nhận các phong tục nước ngoài mà dân Rome cho là thích hợp với mình; khả năng của các đạo luật; những thắng lợi mà các vị tổng tài chấp chính theo đúng phong cách quân tử nên giành được.
Sau này D’Alembert phân tích nhận định nguyên nhân hưng thịnh của Rome trong tư tưởng của Montesquieu khái quát lên chính là “tình yêu tự do, lao động và tổ quốc”. Montesquieu cũng nhấn mạnh tới việc sử dụng khôn khéo các đường lối quân sự, chính trị với các nước láng giềng để củng cố quyền lực của mình. 13 z Nguyên nhân dẫn tới tình trạng suy thoái của người La Mã theo Montesquieu là do: “Các cuộc chiến tranh ở những vùng xa xôi; Sự nhượng “quyền trưởng giả” của công dân Rome cho các đồng minh của họ; sự bất lực của luật pháp trong tình trạng đất nước đã bành trướng” [40, 305]. Điều này về sau D’Alembert cho rằng Montesquieu đã tìm thấy những nguyên nhân suy thoái của Rome ngay trong sự bành trướng của đất nước này.
Khi phân tích nguyên nhân dẫn tới suy thoái ở Rome, Montesquieu trình bày quan điểm về quy luật diễn biến của lịch sử. Ông cho rằng: “Một nước cộng hoà thông minh thì chớ nên phó mặc số phận tốt hay xấu của mình cho những điều ngẫu nhiên” [40, 308]. Ở đây Montesquieu đã thể hiện quan điểm duy vật khi phủ nhận quan điểm cho rằng sự vận động của lịch sử dân tộc là sự sắp đặt của thần linh, do ý muốn chủ quan của cá nhân hay do ngẫu nhiên chi phối. Tuy nhiên do những hạn chế của thời đại nên Montesquieu chỉ thấy được yếu tố tinh thần mà chưa nhận thấy đấu tranh giai cấp là một trong những động lực thúc đẩy sự vận động lịch sử của xã hội có đối kháng giai cấp - điều mà sau này chính C.Ăngghen đã nhận thấy khi phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Nghiên cứu tác phẩm Bàn về nguyên nhân hưng thịnh và suy vong của Rome chúng ta cũng thấy có sự khác nhau trong quan điểm của Montesquieu với nhà Khai sáng sau ông hai mươi năm J. Sự khác nhau ở chỗ: khi nghiên cứu về nền cộng hoà Rome theo Lê Tuấn Huy “Rousseau say sưa nói về một triệu công dân của Rome họp đại hội thường xuyên, có khi một tuần mấy lần, để thực hiện quyền lực tối cao bằng cách giải quyết các công việc, bàn thảo các vấn đề. Việc này, ông nói, “từ hiện thực đến khả năng, tôi thấy hệ quả rõ ràng là tốt” trong khi Montesquieu xem đó là một trong những nguyên nhân suy vong của Rome” [22, 113]. Tuy vậy, giới nghiên cứu vẫn khẳng định Bàn về nguyên nhân hưng thịnh và suy vong của Rome là 14 z một trong ba tác phẩm thành công trong sự nghiệp của Montesquieu.
Tác phẩm không chỉ có giá trị về lịch sử tư tưởng mà còn có giá trị về triết học. Bàn về tinh thần pháp luật được Montesquieu cho xuất bản năm 1748. Ông đã dành thời gian hai mươi năm của cuộc đời mình để viết tác phẩm này. Từ trước khi cuốn sách này được xuất bản, tình trạng sức khoẻ của Montesquieu bị suy giảm nghiêm trọng, ông làm việc nhiều tới nỗi gần như hai mắt bị loà.
Và cũng bởi vì sự khổ công nghiên cứu miệt mài ấy mà sau này Bàn về tinh thần pháp luật được xem là công trình khoa học kết tinh toàn bộ tài năng trí tuệ và con người Montesquieu. Trong tác phẩm này, Montesquieu không nghiên cứu luật pháp như một nhà luật học thuần tuý mà nghiên cứu cái hồn, cái tinh thần cốt lõi của pháp luật. Montesquieu muốn khám phá quy luật bên trong những hỗn độn các luật pháp của mọi thời đại. Đồng thời, tác phẩm cũng thể hiện thái độ phê phán gay gắt của Montesquieu với nền chuyên chính tồn tại ở Pháp lúc bấy giờ.
Chính thái độ khách quan, khoa học ấy của Montesquieu mà ngay khi ra đời, tác phẩm bị công kích dữ dội từ phía quan phương và bị liệt vào “danh mục sách cấm”. Tuy nhiên, cuốn sách vẫn lọt qua sự kiểm soát gắt gao của giáo hội để tới với độc giả. Năm 1750, Montesquieu viết tác phẩm luận chiến “Bảo vệ tinh thần pháp luật” để khẳng định lập trường kiên định của mình với tác phẩm đã xuất bản.