Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động ngày càng phát triển đa dạng, kéo theo các mâu thuẫn, tranh chấp pháp lý ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp. Việc giải quyết các tranh chấp dân sự nhằm bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc tố tụng tư pháp, trong đó nguyên tắc bảo đảm tranh tụng giữ vai trò trung tâm.
Chủ trương cải cách tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt hoạt động tranh tụng tại vị trí then chốt. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị xác định: "Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền và lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định". Tiếp đó, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng tại mọi phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Yêu cầu này đã được hiến định tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể chế hóa tại Điều 24 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự nói chung và tại hệ thống Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Bắc Giang nói riêng, việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm tranh tụng vẫn còn bộc lộ một số bất cập, dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài hoặc bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp trên hủy, sửa. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử dân sự; phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành; khảo sát thực tiễn áp dụng tại TAND hai cấp tỉnh Bắc Giang để nhận diện hạn chế, tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử dân sự như khái niệm, ý nghĩa và cơ sở của việc quy định nguyên tắc.
- Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử dân sự.
- Ba là, nghiên cứu thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng trong xét xử tại các TAND ở tỉnh Bắc Giang về những kết quả đạt được cùng những hạn chế, bất cập và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng.
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử dân sự; các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành; thực tiễn áp dụng nguyên tắc này tại các TAND ở tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tập trung vào giai đoạn xét xử sơ thẩm và thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm tại TAND hai cấp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
- Về thời gian: Khảo sát và tổng hợp số liệu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2018 đến tháng 10 năm 2023.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các quy định pháp luật tố tụng dân sự được xem xét trong mối liên hệ mật thiết với các ngành luật nội dung liên quan và điều kiện thực tiễn thi hành.
Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết bao gồm:
- Văn bản pháp lý quốc tế: Điều 10 Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948, Điều 14 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966.
- Văn bản pháp luật quốc nội: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự (BLDS); Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 (các điều khoản trọng tâm: Điều 3, 5, 7, 12, 13, 24, 48, 58, 70, 71, 91, 96, 97, 100, 109, 110, 186, 187, 194, 196, 199, 200, 227, 228, 243, 244, 247–263, 301–306); Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 và Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của TANDTC.
- Tài liệu học thuật kế thừa: Các công trình nghiên cứu về tố tụng tranh tụng của Ngô Thị Thu Hà (2002, 2010), Trần Văn Độ (2004), Nguyễn Công Bình (2003), Mai Bộ (2014), Phạm Thị Ánh Ngọc (2016), Đỗ Bá Nguyện (2019), Nguyễn Thanh Tâm (2020), Nguyễn Hoàng Nam (2021)...
Phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận: Làm sáng tỏ bản chất pháp lý, cấu trúc của nguyên tắc tranh tụng và hệ thống hóa các quy định của BLTTDS năm 2015.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của BLTTDS năm 2015 với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhằm làm nổi bật những điểm mới tiến bộ trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự.
- Phương pháp thống kê và tổng hợp số liệu thực tiễn: Thu thập và xử lý các báo cáo công tác xét xử, giải quyết vụ việc dân sự sơ thẩm của TAND hai cấp tỉnh Bắc Giang từ năm 2018 đến tháng 10/2023.
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án (án lệ/bản án thực tế): Phân tích chi tiết vi phạm tố tụng trong Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/LĐ-ST ngày 28/11/2019 của TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử dân sự
Chương 1 tập trung phân tích nguồn gốc, bản chất học thuật và nội dung pháp lý của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng theo quy định của BLTTDS năm 2015.
-
Khái niệm, ý nghĩa và cơ sở của nguyên tắc:
- Khái niệm tranh tụng: Tác giả dẫn chứng nguồn gốc lịch sử của mô hình tố tụng tranh tụng xuất hiện từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại (với tên gọi "thủ tục hỏi đáp liên tục"). Về mặt khoa học pháp lý, tranh tụng trong tố tụng dân sự được hiểu theo nghĩa rộng (toàn bộ quá trình từ khi thụ lý đơn khởi kiện đến khi bản án có hiệu lực pháp luật) và nghĩa hẹp (hoạt động đối đáp, chứng minh diễn ra trực tiếp tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm). Tranh tụng là quá trình các chủ thể tham gia tố tụng đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình dưới sự điều khiển vô tư, khách quan của Tòa án.
- Khái niệm nguyên tắc bảo đảm tranh tụng: Là tư tưởng pháp lý chỉ đạo mang tính định hướng của Nhà nước, xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm các điều kiện cần thiết để đương sự thực hiện đầy đủ quyền tranh tụng trong suốt quá trình tố tụng dân sự, đồng thời phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng.
- Ý nghĩa: Về mặt chính trị - xã hội, nguyên tắc thể hiện tính dân chủ, công bằng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tư pháp và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân. Về mặt pháp lý, nguyên tắc tạo cơ chế hữu hiệu để đương sự tự bảo vệ quyền lợi, ràng buộc Tòa án và Hội đồng xét xử phải giữ vị thế độc lập, vô tư, khắc phục xu hướng áp đặt chủ quan của mô hình xét hỏi thuần túy.
- Cơ sở xác lập: Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân; nguyên tắc bình đẳng, công bằng; yêu cầu Tòa án phải ra phán quyết khách quan, đúng pháp luật; và xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự nhằm hạn chế tỷ lệ án bị hủy, sửa do vi phạm thủ tục tố tụng.
-
Quy định pháp luật hiện hành về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng:
- Quyền tranh tụng của đương sự: Đương sự có quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập (Điều 100, Điều 200 BLTTDS năm 2015); quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu (Điều 71, Điều 243, Điều 244); quyền chấp nhận hoặc phản đối yêu cầu của bên đối lập (Điều 194, Điều 196, Điều 199); quyền thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh (khoản 5 Điều 70, Điều 91); quyền tiếp cận chứng cứ của phía bên kia và chứng cứ do Tòa án thu thập (Điều 70, Điều 109); quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 7, Điều 110); quyền tham gia phiên tòa và quyền tranh luận, đối đáp bình đẳng (Điều 227, Điều 228, Điều 247). BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định bị đơn chỉ được đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (khoản 3 Điều 200), giúp khắc phục việc đương sự đưa ra yêu cầu muộn làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
- Trách nhiệm của Tòa án: Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng theo quy định tại Điều 24 BLTTDS năm 2015; bảo đảm sự vô tư, khách quan và độc lập khi xét xử (khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và Điều 12 BLTTDS năm 2015). Độc lập thể hiện ở 3 khía cạnh: Tòa án độc lập với cơ quan hành pháp/lập pháp; Tòa án cấp dưới độc lập về mặt xét xử với Tòa án cấp trên; và các thành viên Hội đồng xét xử độc lập với nhau. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng (Điều 4) và chỉ thụ lý giải quyết khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu (Điều 5).
- Thủ tục thể hiện nguyên tắc tranh tụng: Thể hiện qua thủ tục khởi kiện, thụ lý; giai đoạn chuẩn bị xét xử (giao nộp chứng cứ, ghi lời khai, đối chất, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo khoản 7 Điều 48); thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm với 17 điều luật (Điều 247 đến Điều 263) và tại phiên tòa phúc thẩm (Điều 301 đến Điều 306). Khoản 3 Điều 247 quy định rõ: Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho các bên trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu dừng những ý kiến không liên quan đến vụ án.
Chương 2: Thực tiễn và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử sơ thẩm dân sự tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Giang
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn áp dụng nguyên tắc tranh tụng tại TAND hai cấp tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018 - 10/2023, phân tích số liệu, chỉ ra các sai sót qua một bản án cụ thể và đề xuất giải pháp.
- Kết quả đạt được:
- Trong giai đoạn từ năm 2018 đến tháng 10 năm 2023, TAND hai cấp tỉnh Bắc Giang đã thụ lý và giải quyết một lượng lớn các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Quá trình giải quyết tuân thủ các quy định của BLTTDS năm 2015, tôn trọng quyền thu thập, giao nộp chứng cứ và quyền tranh luận của đương sự.
- Các Tòa án làm tốt việc giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng cho đương sự; tích cực hỗ trợ thu thập chứng cứ khi có yêu cầu hợp lệ; nâng cao chất lượng điều hành phiên tòa theo hướng dân chủ, công khai; tăng cường đối thoại, giúp nâng cao tỷ lệ hòa giải thành. Năm 2021, TAND tỉnh Bắc Giang vừa thực hiện nhiệm vụ xét xử vừa triển khai các mục tiêu cải cách tư pháp, xây dựng Tòa án điện tử trong bối cảnh ứng phó với dịch bệnh Covid-19.
| Năm |
Số vụ việc dân sự thụ lý |
Số vụ việc dân sự đã giải quyết |
Đạt tỷ lệ (%) |
| 2018 |
3.286 |
2.483 |
75,6% |
(Số liệu tổng hợp qua các năm cho thấy lượng án giải quyết tăng dần, trong đó cơ cấu giải quyết năm 2022 chiếm tỷ trọng cao nhất với 28%, năm 2018 chiếm 22,1%).
-
Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân:
- Tỷ lệ các vụ việc dân sự sơ thẩm bị Tòa án cấp trên hủy dao động từ 0,3% đến 1,2%, tỷ lệ bị sửa dao động từ 1,0% đến 1,8%.
- Nguyên nhân chủ quan do vi phạm tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; xác minh, thu thập và đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ; bỏ sót yêu cầu khởi kiện của đương sự.
-
Phân tích vụ án điển hình bị hủy do vi phạm tố tụng tranh tụng:
- Vụ án: Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/LĐ-ST ngày 28/11/2019 của TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang về "Tranh chấp lao động".
- Nội dung vụ việc: Các đồng nguyên đơn (ông Hoàng Thế L., ông Bùi Xuân T., ông Bùi Duy V.) ký hợp đồng lao động 3 tháng/lần liên tục 40 lần (từ 2002 đến hết 2013) với Ban Quản lý (BQL) Chợ M để làm công việc trông giữ xe đạp và thu lệ phí chợ. Từ năm 2014 không ký tiếp hợp đồng nhưng vẫn làm việc đến ngày 30/8/2018 thì bị BQL cho nghỉ việc mà không có văn bản thông báo trước. Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: (i) Công nhận HĐLĐ không xác định thời hạn; (ii) Trả tiền lương còn thiếu so với mức lương tối thiểu vùng kèm tiền lãi chậm trả; (iii) Truy nộp BHXH bắt buộc và Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); (iv) Tiếp nhận trở lại làm việc. Riêng ông V. đã hưởng chế độ hưu trí từ 2010 nên yêu cầu thanh toán khoản tiền tương đương BHXH, BHYT, BHTN và phép năm.
- Phán quyết sơ thẩm: TAND huyện Tân Yên chấp nhận một phần yêu cầu: buộc tiếp nhận trở lại làm việc, công nhận HĐLĐ không xác định thời hạn đối với các hợp đồng năm 2003, tuyên bố vô hiệu phần thỏa thuận BHXH và buộc truy nộp BHXH cho ông L., ông T.; đình chỉ yêu cầu trả lương thiếu và lãi suất; không chấp nhận yêu cầu của ông V.
- Các sai phạm tố tụng dẫn đến bản án bị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ:
- Xác định thiếu quan hệ pháp luật tranh chấp: Đương sự khởi kiện nhiều yêu cầu nhưng Tòa án sơ thẩm chỉ xác định quan hệ pháp luật là "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và yêu cầu truy nộp bảo hiểm xã hội".
- Giải quyết không hết yêu cầu khởi kiện: Các nguyên đơn có yêu cầu buộc BQL Chợ M truy nộp tiền BHTN chưa đóng, nhưng Tòa án sơ thẩm hoàn toàn không xem xét, nhận định và giải quyết yêu cầu này.
- Vi phạm trong thu thập và đánh giá chứng cứ: Tòa án không thu thập chứng cứ để xác định số tiền truy thu BHXH căn cứ vào mức lương ghi trong hợp đồng hay mức lương tối thiểu vùng; không xác định ngày tháng cụ thể của năm 2003 và không tính ra tổng số tiền phải truy nộp làm căn cứ thi hành án, dẫn đến phán quyết không rõ ràng, không thể thi hành được.
- Vi phạm về xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng: Theo Quyết định số 102/QĐ-UB ngày 27/11/2002 của UBND huyện Tân Yên, BQL Chợ M là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Phòng Kinh tế và Hạ tầng nông thôn huyện Tân Yên. Trong giai đoạn các nguyên đơn làm việc có thời gian đơn vị này trực thuộc Phòng Kinh tế và Hạ tầng nông thôn, nhưng Tòa án không đưa cơ quan này vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vi phạm khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015.
-
Kiến nghị nâng cao hiệu quả:
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhằm tháo gỡ vướng mắc trong việc giao nộp, tiếp cận chứng cứ và quy trình tranh tụng tại phiên tòa.
- Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng điều hành tranh tụng cho Thẩm phán và Thư ký TAND hai cấp tỉnh Bắc Giang; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng mô hình Tòa án điện tử.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã làm rõ các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu và quy định pháp lý:
| Tiêu chí |
Kết quả cụ thể được ghi nhận trong khóa luận |
| Số liệu thụ lý & giải quyết sơ thẩm |
Năm 2018 thụ lý 3.286 vụ việc, giải quyết 2.483 vụ việc (đạt 75,6%). Tỷ trọng giải quyết cao nhất ghi nhận vào năm 2022 (28%). |
| Tỷ lệ án sơ thẩm bị hủy, sửa |
Tỷ lệ án bị hủy chiếm từ 0,3% đến 1,2%; tỷ lệ án bị sửa chiếm từ 1,0% đến 1,8% trên tổng số vụ việc giải quyết. |
| Hệ thống hóa quy định pháp luật |
Phân tích toàn diện Điều 24, Điều 70, 71, 91, 96, 100, 200, 247-263 BLTTDS năm 2015 điều chỉnh cơ chế bảo đảm tranh tụng. |
| Nhận diện sai sót thực tế |
Chỉ rõ 04 nhóm lỗi vi phạm tố tụng qua Bản án sơ thẩm số 01/2019/LĐ-ST của TAND huyện Tân Yên (bỏ sót quan hệ tranh chấp, bỏ sót yêu cầu khởi kiện, thu thập chứng cứ không đủ, bỏ sót đương sự). |
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận không dừng lại ở việc nghiên cứu lý luận chung về tranh tụng thời điểm trước năm 2015, mà đi sâu phân tích có hệ thống nguyên tắc bảo đảm tranh tụng dưới góc độ quy định của BLTTDS năm 2015 trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Đề tài cung cấp dữ liệu thực tiễn và phân tích chuyên sâu tại địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018 - 10/2023, chỉ ra những vướng mắc cụ thể trong việc áp dụng luật tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và chỉ tập trung vào giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong khung thời gian từ năm 2018 đến tháng 10 năm 2023. Do đó, các khía cạnh tranh tụng tại cấp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chưa được đi sâu phân tích toàn diện.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng khảo sát thực tiễn áp dụng nguyên tắc tranh tụng tại cấp phúc thẩm và thủ tục giám đốc thẩm; nghiên cứu so sánh thực tiễn giữa các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau; nghiên cứu tác động của mô hình phiên tòa trực tuyến và chuyển đổi số tư pháp đối với việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự.
Giá trị tham khảo
- Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Là tài liệu tham khảo trong học phần Luật Tố tụng dân sự, cung cấp kiến thức phân tích các điều luật của BLTTDS năm 2015 (như quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; giới hạn thời điểm phản tố; thủ tục hỏi và tranh luận tại phiên tòa).
- Đối với người làm thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư): Cung cấp các phân tích thực tế về kỹ năng điều hành tranh tụng, cách nhận diện và phòng ngừa các vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng (xác định quan hệ tranh chấp, giải quyết triệt để yêu cầu khởi kiện, xác định đầy đủ tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) thông qua vụ án cụ thể tại TAND huyện Tân Yên.
Câu hỏi thường gặp
1. BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn như thế nào so với các luật trước đây nhằm bảo đảm quyền tranh tụng?
Theo khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015, bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Quy định này rút ngắn thời hạn so với BLTTDS năm 2004 (vốn cho phép phản tố trước khi mở phiên tòa sơ thẩm), nhằm ngăn ngừa tình trạng kéo dài vụ án và bảo đảm nguyên đơn có đủ thời gian chuẩn bị chứng cứ đối đáp.
2. Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/LĐ-ST của TAND huyện Tân Yên bị cấp phúc thẩm hủy vì những sai phạm tố tụng nào?
Bản án bị hủy do 04 vi phạm: (1) Xác định thiếu quan hệ pháp luật tranh chấp; (2) Không giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (bỏ sót yêu cầu truy nộp BHTN); (3) Thu thập chứng cứ không đầy đủ và nhận định không rõ ràng về căn cứ tính tiền BHXH dẫn đến bản án không thi hành được; (4) Không đưa Phòng Kinh tế và Hạ tầng nông thôn huyện Tân Yên vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 BLTTDS năm 2015.
3. Tỷ lệ giải quyết án và tỷ lệ án bị hủy, sửa tại TAND tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2018 - 10/2023 là bao nhiêu?
Năm 2018, các TAND tỉnh Bắc Giang thụ lý 3.286 vụ việc và giải quyết 2.483 vụ việc (đạt tỷ lệ 75,6%). Tỷ lệ giải quyết tăng dần qua các năm (năm 2022 chiếm tỷ trọng cao nhất với 28%). Tỷ lệ án sơ thẩm bị hủy dao động từ 0,3% đến 1,2%, tỷ lệ án bị sửa dao động từ 1,0% đến 1,8%.
4. Chủ tọa phiên tòa có quyền hạn và trách nhiệm gì đối với thời gian tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm theo Điều 247 BLTTDS năm 2015?
Theo khoản 3 Điều 247 BLTTDS năm 2015, Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, phải tạo điều kiện cho những người tham gia trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không liên quan đến vụ án dân sự đang xét xử.
5. Điểm mới của BLTTDS năm 2015 khi Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa dân sự sơ thẩm là gì?
Khi Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm để thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp mà Kiểm sát viên vắng mặt, Tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường chứ không hoãn phiên tòa như quy định cũ. Lý do là phiên tòa sơ thẩm là nơi các bên đương sự tranh tụng với nhau, không phải tranh tụng với Viện kiểm sát, và Viện kiểm sát có thể kiểm sát thông qua nghiên cứu hồ sơ, bản án.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Lê Khánh Quỳnh đã làm rõ cơ sở lý luận và phân tích có hệ thống các quy định của BLTTDS năm 2015 về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử dân sự. Đề tài phản ánh trung thực thực tiễn áp dụng tại TAND hai cấp tỉnh Bắc Giang từ năm 2018 đến tháng 10 năm 2023 thông qua chuỗi số liệu giải quyết án và phân tích chi tiết vi phạm tố tụng trong một vụ án lao động cụ thể. Các kết quả nghiên cứu và kiến nghị được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân địa phương.