mở đầu là “Sự phát triển của các dạng thức ngữ pháp” (1912).C, 1993, Dẫn theo 19, 21] Khái niệm “Ngữ pháp hóa” của Meilet “việc qui gán đặc trưng ngữ pháp cho một từ tự thân trước đó” rõ ràng không nói về các dạng thức đi vào ngữ pháp của một ngôn ngữ, mà gợi ý cho chúng ta nghĩ rằng: cùng một từ, về bản chất, lúc này có tính ngữ pháp, lúc khác có tính từ vựng, tùy theo ngữ cảnh sử dụng. Có thể nói quan điểm của Meillet là quan điểm cơ bản, truyền thống về ngữ pháp hóa. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các công trình nghiên cứu về loại hình học của Ch. Thompson (1976) có thể nói là nghiên cứu về ngữ pháp hóa.
Chẳng hạn khi nghiên cứu các kết cấu động từ chuỗi trong tiếng Trung Quốc và các ngôn ngữ cùng loại hình, họ chỉ ra rằng các động từ có thể được “phân tích lại” như là các giới từ và các chỉ số cách [21, 485]. Trong công trình [22], Li và Thompson, chia các ngôn ngữ trên thế giới thành bốn loại hình căn cứ vào việc sử dụng các kiểu kết cấu “chủ ngữ- vị ngữ” và “đề ngữ- thuyết ngữ”. Vấn đề là ở chỗ, mối quan hệ giữa chủ ngữ (subject) và đề ngữ (topic) được đặt trong nội dung của ngữ pháp hóa. Theo họ sự khác nhau một cách hiển nhiên giữa chủ ngữ và đề ngữ chỉ ở mức độ ngữ pháp hóa “Về bản chất, chủ ngữ là chủ đề được ngữ pháp hóa” [22, 484].
Ở nước ta, Cao Xuân Hạo đã vận dụng một cách triệt để quan niệm của Li và Thompson về Subject và Topic khi xem xét lại vấn đề thành phần câu trong tiếng Việt, đã phủ nhận hoàn toàn khả năng phân tích câu tiếng Việt theo mô hình chủ- vị. Tác giả cho rằng bộ phận danh ngữ đứng đầu câu (khi không có “chuyển tố”- giới từ) không có một cương vị ngữ pháp hình thức nào (tức không được “ngữ pháp hóa”) mà chỉ có cương vị cú pháp cơ bản là có chức năng biểu thị chủ đề logic của mệnh đề, nên nó chỉ là Đề ngữ, không phải là Chủ ngữ như trong các ngôn ngữ có sự ngữ pháp hóa chủ đề [Dẫn theo 8, 14-15]. Cuối những năm 1970, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của việc nghiên cứu loại hình học và ngữ dụng học, việc nghiên cứu ngữ pháp hóa được phục hồi, mở rộng và đã trải qua thời kỳ “phục hưng” của nó với nhiều chuyên khảo và tên tuổi của nhiều nhà ngôn ngữ học Âu- Mỹ: T.Abraham,… Trong đó phải kể đến vai trò của Givon, ông đưa ra một nhận định vẫn thường được các nhà nghiên cứu nhắc đến như một định đề trong lý thuyết ngữ pháp hóa 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Hình thái học hôm nay là cú pháp học của hôm qua” [15, 413]. Ông là người đã tổ chức cuộc hội thảo về ngữ pháp hóa vào năm 1988, kết quả là một tuyển chọn hai tập được E.Heine biên soạn năm 1991, có tên là “Các cách tiếp cận ngữ pháp hóa”.
Năm 1979 có tác phẩm “Về việc hiểu ngữ pháp” của Givon [16]. Tác phẩm đặt tất cả các hiện tượng ngôn ngữ vào bộ khung làm việc của cú pháp hóa và hình thái học hóa. Năm 1982, tác phẩm “Những suy nghĩ về ngữ pháp hóa: một phác thảo chương trình ứng dụng” [20] của C.Lehmann có thể coi là công trình hiện đại đầu tiên đề cao việc tiếp tục nghiên cứu ngữ pháp hóa đã có từ giai đoạn trước, và cung cấp một sự nghiên cứu tổng quát về các công trình có ý nghĩa trong ngữ pháp hóa đến thời gian đó, với sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của các công trình ngôn ngữ học lịch sử. Năm 1984 một cuốn sách khác được dư luận chú ý là “Ngữ pháp hóa và việc phân tích lại trong các ngôn ngữ châu Phi” [18] của B.
Có lẽ đây là cuốn sách đầu tiên đề cập đến toàn bộ một ngôn ngữ (châu Phi) từ nghiên cứu ngữ pháp hóa theo quan điểm đồng đại. Nó cung cấp một sự phân loại với các ví dụ phong phú về ngữ pháp hóa, và một bảng thống kê về các con đường điển hình của ngữ pháp hóa một cách riêng biệt, với sự đề cao hình thái cú pháp và ngữ âm.Heine lại cùng với U.Hunnemeyer xuất bản một tác phẩm khác “Ngữ pháp hóa: một khung làm việc khái niệm” [17]. Tư liệu chính ở đây là các ngôn ngữ châu Phi được miêu tả theo đồng đại, nhưng trọng tâm được đề cập là các nhân tố ngữ dụng và các nhân tố tri nhận- được coi là động lực của ngữ pháp hóa; sau nữa là những thay đổi ý nghĩa và các dạng thức có thể trải qua của các yếu tố ngôn ngữ khi chúng ngữ pháp hóa. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công trình “Các bình diện của ngữ pháp hóa” [Dẫn theo 8, 16] là tuyển chọn các báo cáo về ngữ pháp hóa của Hội thảo ngôn ngữ học hàng năm, lần thứ XIV (1993) ở trường đại học Wisconsin- Wilwaukee, được W.Pagliuca biên soạn với nội dung chủ yếu là những nghiên cứu về ngữ pháp hóa trong một số ngôn ngữ cụ thể như: nghiên cứu lịch đại về từ nối mệnh đề TE và BA trong tiếng Nhật, ngữ pháp hóa của “à” trong tiếng Pháp, ngữ pháp hóa thể hoàn thành trong tiếng Anh cổ… và một vài bài về vấn đề thay đổi ngữ nghĩa, ngữ âm, trật tự từ trong ngữ pháp hóa trên bình diện lịch đại.
Công trình “Ngữ pháp hóa” [19] của P.Traugott (1993) là một sự tổng kết và nghiên cứu toàn diện về ngữ pháp hóa, kể từ những nghiên cứu hình thái học ở thế kỷ XIX đến bây giờ. Các tác giả cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng thế về ngữ pháp hóa như vấn đề thuật ngữ, vấn đề hướng tiếp cận, vấn đề đặc trưng và cơ chế của quá trình ngữ pháp hóa, các quan điểm khác nhau thậm chí trái ngược nhau trong ngữ pháp hóa… Tiếp đến là một công trình nghiên cứu về ngữ pháp hóa trong các ngôn ngữ phương Đông: “Loại hình khu vực và ngữ pháp hóa: Các tiến trình ngữ pháp hóa cơ bản của danh từ và động từ trong các ngôn ngữ phía Đông và đất liền Đông Nam Á” [14] của Walter Bisang- một nhà ngôn ngữ học Đức (1996). Về mặt lý thuyết, công trình này tuyên bố hoàn toàn dựa vào những nghiên cứu của Hopper và Traugott [Dẫn theo 8, 17]. Tác giả đã tiến hành so sánh loại hình khu vực về ngữ pháp hóa trong phạm vi động từ và danh từ của tiếng Trung Quốc, HMông, Việt Nam, Thái và Campuchia.
Tác giả đưa ra khái niệm “hút tố vị trí” (attractor positions). Ở Việt Nam ngoài việc xem xét ngữ pháp hóa như một con đường của sự thay đổi ngôn ngữ hoặc là những vấn đề có liên quan với sự thay đổi, người ta còn tiếp cận ngữ pháp hóa bằng nghiên cứu loại hình học. Hướng này nghiên cứu các cách mã hóa các kiểu cấu trúc ngữ dụng diễn ngôn giống nhau trong các ngôn ngữ. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Nguyễn Lai trong cuốn “Ngữ nghĩa nhóm từ chỉ hướng vận động tiếng Việt hiện đại” (nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2001) đã có một đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu sự hình thành và phát triển của nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt và phần nào đó, ông đã đề cập hiện tượng ngữ pháp hóa.
Ông chỉ ra sự phản ứng của con người đã tạo ra những loại hướng khác nhau, đó là không gian, thời gian và tâm lý. Kết cấu vận động không gian có từ chỉ hướng vận động làm hạt nhân là những kết cấu phản ánh sự đối ứng về địa hình không gian trong vận động ở cấp độ ngữ nghĩa. Sự hình thành nghĩa tố của từ chỉ hướng vận động không tách rời với quá trình tác động của văn cảnh. Và nhân tố văn cảnh ở đây- theo cách lý giải của tác giả từ trong chiều sâu- là hiện thực khách quan được con người nhận thức theo một logic nhất định và theo quá trình nào đó chuyển hóa nó vào ngôn ngữ.
Tác giả khi nhắc đến hai từ “lên” và “vào”, thì ngoài nghĩa tố gốc đầu tiên là vận động từ thấp đến cao, trong quá trình vận dụng, “lên” được sản sinh thêm nghĩa tố vận động từ biển đến núi và từ đông đến tây (trên địa hình Việt Nam). “Vào” có nghĩa tố gốc đầu tiên là vận động từ rộng đến hẹp. Trong quá trình vận dụng, “vào” được sản sinh thêm nghĩa tố vận động từ bắc đến nam. Chính khả năng biểu hiện tính đối ứng về mặt địa hình gắn liền với sự xuất hiện loại nghĩa tố điển hình đã thử nêu, một mặt làm cho lượng thông tin của một số từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt phong phú thêm, mặt khác nó làm rõ thêm nét riêng của nhóm từ này trong tiếng Việt so với một số tiếng khác, đặc biệt là tiếng Ấn- Âu (như Anh, Nga, Pháp, Đức).
Việc khảo sát mối tương quan giữa những phạm trù Vận động- hướng- đích, đã giúp tác giả thấy rằng Vận động- hướng- đích là những nhân tố phần lớn không tồn tại tự thân và tách rời, trái lại chúng có liên quan với nhau rất mật thiết trong hoạt động thực tiễn, nhất là trong hoạt động chuyển động không gian có đích. Hay nói cách khác, khi có đích thì dường như hướng bao giờ cũng trở thành một phạm trù không thể thiếu: phạm trù trung gian. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài ra ở Việt Nam nhắc đến nghiên cứu Ngữ pháp hóa là không thể bỏ qua tác giả Trần Thị Nhàn. Trong cuốn “Lý thuyết ngữ pháp hóa và thực trạng ngữ pháp hóa một số từ trong tiếng Việt”, bà đã góp phần làm sáng tỏ một vài đặc điểm của tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp hóa.
Nghiên cứu cho rằng, trước đây, người ta thường nghiên cứu ngữ pháp hóa trên quan điểm lịch đại, truy tìm “nguồn gốc” và “tiến trình” của một dạng thức, một kết cấu ngữ pháp ở bình diện bản thể của ngôn ngữ. Hiện nay ngữ pháp hóa được nghiên cứu mở rộng ở nhiều cấp độ: hình thái học, cú pháp học, loại hình học,… và được xem xét theo cả quan điểm lịch đại và quan điểm đồng đại. Trên quan điểm đồng đại, ngữ pháp hóa có cơ sở là một hiện tượng cú pháp hoặc một hiện tượng ngữ dụng ngôn bản được nghiên cứu theo cách nhìn về sự biến đổi các kết cấu ngữ pháp, sự linh hoạt của cách dùng, việc cố định hóa những trật tự từ có căn cứ về mặt ngữ dụng.