Chương 1 cũng nêu ra tình hình nghiên cứu các giải pháp trong lĩnh vực xử lý ảnh SPECT tim cả trong và ngoài nước cùng với những nhận xét, đánh giá các nghiên cứu khảo sát, đề xuất hướng nghiên cứu của tác giả. Chương 2: Tác giả tiến hành xây dựng bộ cơ sở dữ liệu SPECT tim làm cơ sở để huấn luyện, đánh giá các thuật toán trong xử lý ảnh và giải pháp hỗ trợ chẩn đoán trong các chương tiếp theo. Chương 3: Tác giả xây dựng bộ lọc nhiễu suy giảm sử dụng mạng deep learning. Từ các đặc trưng hình ảnh của SPECT tim, tác giả cấu trúc lại các lát cắt 2D thành dữ liệu 3D nhằm bảo tồn các đặc trưng có mối liên hệ không gian giữa các lát.
Sau đó, tác giả xây dựng các mô hình học có khả năng lọc nhiễu suy giảm cao là 3D Convolutional Auto- Encoder (3D-CAE), 3DUnet-GAN. Để đánh giá hiệu quả của các mô hình, các phép đo NMAE, PCC, SSIM đã được sử dụng. Chương 4: Tác giả phát triển 2 giải pháp hỗ trợ chẩn đoán bệnh mạch vành. Một, tác giả tiến hành đánh giá giá trị của ảnh hiệu chỉnh suy giảm bằng mô hình học sâu tạo ra trình bày ở chương 3 với 2 bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm.
Từ đó, tác giả đề xuất hỗ trợ chẩn đoán bệnh động mạch vành bằng nâng cao chất lượng hình ảnh qua dự đoán ảnh hiệu chỉnh suy giảm với mô hình học sâu. Hai, tác giả đã khảo sát ảnh bản đồ cực và ảnh cắt lát để xác định loại dữ liệu đầu vào phù hợp cho mô hình học máy trong bài toán phân lớp. Sau đó, tác giả đề xuất mô hình phân lớp có tổn thương và không có tổn thương. Chương 5: Kết luận, kiến nghị và hướng phát triển.
Phần cuối cùng là danh mục, tài liệu tham khảo và các công trình đã công bố. Các đóng góp chính của luận án ở chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP XẠ HÌNH TƯỚI MÁU CƠ TIM BẰNG MÁY SPECT 1. Bệnh lý động mạch vành 1.
Giải phẫu tim và bệnh lý mạch vành Ở hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, bệnh động mạch vành CAD (coronary artery disease) là vấn đề quan tâm hàng đầu của y học hiện đại vì tỷ lệ mắc ngày càng cao và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong, mất sức lao động. Với bệnh nhân bị bệnh động mạch vành, chi phí điều trị rất lớn, đặc biệt là dành cho việc điều trị khi bệnh ở mức độ nặng hoặc biến chứng [1]. Xơ vữa động mạch là nguyên nhân chính của bệnh động mạch vành. Xơ vữa động mạch làm dày thành động mạch, xâm lấn dần vào trong lòng mạch gây hẹp khẩu kính, dẫn đến giảm lưu lượng dòng chảy gây triệu chứng thiếu máu cục bộ cơ tim.
Thêm nữa, mảng xơ vữa cũng có thể bị rách, vỡ tạo điều kiện hình thành huyết khối gây bít tắc lòng mạch, dẫn đến biến chứng nặng nề là nhồi máu cơ tim cấp (hình 1.1 Bệnh động mạch vành Quả tim được nuôi dưỡng bởi hệ thống mạch máu gồm động mạch vành phải và động mạch vành trái. Động mạch vành phải RCA (Right Coronary Artery) cấp máu cho nửa phải của tim và một phần tâm thất trái. Động mạch vành trái chia thành 2 nhánh lớn là động mạch liên thất trước LAD (Left Anterior Decending) và động mạch mũ LCx (Left 8 Circumplex Artery) cấp máu cho phần còn lại của tim (hình 1. Từ ba nhánh lớn này cho ra rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ hơn có nhiệm vụ mang máu giàu oxy từ động mạch chủ đi nuôi dưỡng tất cả các cấu trúc trong quả tim.
Khi bị xơ vữa lòng mạch, lưu lượng máu từ động mạch vành tới cơ tim bị giảm, cơ tim không nhận đủ oxy và xuất hiện các cơn đau thắt ngực.2 Mạch máu của tim 1.Động mạch vành phải 3. Động mạch vành trái 4. Động mạch liên thất trước 1. Các phương pháp chẩn đoán bệnh mạch vành Trong thời gian qua, ngành tim mạch đã có những bước tiến lớn trong chẩn đoán, điều trị cấp cứu với những bệnh nhân mạch vành.
Phương pháp tái tưới máu cơ tim, đặc biệt là can thiệp động mạch vành đã làm giảm tỉ lệ tử vong, nhồi máu cơ tim và tăng thời gian sống thêm đáng kể [2-4]. Tuy nhiên, để có kết quả khả quan, việc chẩn đoán đúng bệnh, giai đoạn bệnh có ý nghĩa quan trọng, mang tính quyết định trong hướng điều trị. Hiện nay, có một số phương pháp chẩn đoán bệnh động mạch vành. Điện tâm đồ là phương pháp đơn giản nhất để phát hiện những dấu hiệu của bệnh mạch vành.
Phương pháp này thu nhận những tín hiệu xung điện trong quá trình quả tim hoạt động. Thông qua tín hiệu điện tâm đồ, những biểu hiện của thiếu máu cơ tim, hoại tử cơ tim cũng như những biến chứng của bệnh tim mạch như dày thành tim, dãn buồng tim và rối loạn nhịp sẽ được phát hiện. Đây là phương pháp thăm dò dễ thực hiện, ít tốn kém, mất ít thời gian để thực hiện kỹ thuật. Tuy nhiên, sự tương quan của điện tâm đồ và bệnh 9 mạch vành không phải lúc nào cũng chính xác.
Thực tế lâm sàng cho thấy có khá nhiều trường hợp có bệnh mạch vành mà điện tâm đồ lại không biến đổi. Ngược lại, điện tâm đồ có thể biến đổi trong khi bệnh nhân lại không bị bệnh mạch vành (trường hợp nữ giới, bệnh nhân béo phì, tăng huyết áp). Siêu âm tim với nguyên lý hoạt động dựa trên sóng siêu âm để tạo ra những hình ảnh của trái tim khi tim đang hoạt động, nhằm mục đích khảo sát vận động của thành tim, chức năng tim cũng như van tim. Khi bệnh nhân có bệnh động mạch vành, vùng cơ tim được cấp máu bởi nhánh mạch vành đó sẽ không được cấp đủ oxy.
Vùng cơ tim đó sẽ có hiện tượng rối loạn vận động so với các vùng khác (có thể giảm vận động hoặc hoàn toàn không vận động). Siêu âm tim thường phát hiện được bệnh mạch vành ở giai đoạn muộn vì lúc này đã xuất hiện những rối loạn vận động của buồng tim. Chụp cộng hưởng từ MRI (magnetic resonance imaging) có thể cho các thông tin về giải phẫu, chức năng, sự tưới máu và chuyển hóa cơ tim. Tuy nhiên, kỹ thuật này có một số hạn chế như thời gian thực hiện dài, chống chỉ định nếu bệnh nhân có cấy một số thiết bị kim loại.
Hiện tại, chụp MRI tim vẫn chưa được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng. Nguyên nhân có thể do số chuyên gia làm MRI tim và sự tiếp cận với hệ thống này còn hạn chế. Do vậy, chỉ định MRI tim thường được khuyến cáo trong trường hợp cần đánh giá khi nghi ngờ có bất thường mạch vành hay cần đánh giá bệnh tim bẩm sinh phức tạp, hoặc trường hợp cần tránh tiếp xúc với tia X. Kỹ thuật PET/CT (positron emission tomography/ computed tomography) hiện nay trong tim mạch được chỉ định là đánh giá tình trạng cơ tim sống còn (myocardial viability), phân biệt vùng cơ tim choáng (stunning), đông miên (hibernating) với sẹo cơ tim.
PET/CT FDG được coi là phương pháp đánh giá khả năng hồi phục vận động, chức năng thất trái sau can thiệp tái tưới máu động mạch vành có độ nhạy cao. Sử dụng PET/CT có thể cho phép tiến hành đồng thời chụp động mạch vành bằng CT đa lớp cắt, kết hợp với các thông tin của PET về tình trạng chức năng như tưới máu cơ tim, đánh giá cơ tim sống còn được trình bày trên cùng 1 hình ảnh theo không gian 3 chiều. Phương pháp MSCT (multi-slice computer tomography) tim là kỹ thuật chụp không xâm lấn, cho phép khảo sát trực tiếp lòng mạch để biết mức độ hẹp lòng mạch, đồng thời 10 đánh được các tính chất mảng xơ vữa động mạch. Phương pháp này có độ tương phản cao, dễ áp dụng cho bệnh nhân vì thời gian nín thở chỉ từ 5 tới 7 giây.
Xạ hình tưới máu cơ tim MPI (myocardial perfusion imaging) bằng máy chụp cắt lớp phát xạ đơn photon SPECT (single photon emission computed tomography) là kỹ thuật dùng để đánh giá lượng máu nuôi tim có đầy đủ hay không trong lúc nghỉ ngơi và vận động. Kỹ thuật này thường được chỉ định để tìm nguyên nhân đau ngực cũng như sau nhồi máu cơ tim để kiểm tra vùng nào của tim không nhận đủ máu hoặc đánh giá độ rộng tổn thương cơ tim. Bên cạnh đó, kỹ thuật SPECT MPI còn được dùng để xác định xem động mạch vành có bị hẹp hay không và hẹp ở mức độ nào. Phương pháp này sẽ được trình bày nhiều hơn ở phần tiếp theo của luận án.
Xạ hình tưới máu cơ tim bằng máy SPECT 1. Nguyên lý của phương pháp chụp xạ hình tưới máu cơ tim. Có nhiều phương pháp để chẩn đoán bệnh động mạch vành, từ bệnh sử của cơn đau thắt ngực, đến các xét nghiệm chẩn đoán không xâm lấn như điện tâm đồ, siêu âm, chụp cộng hưởng từ, xét nghiệm chẩn đoán xâm lấn như chụp mạch cản quang qua da, xạ hình tưới máu cơ tim.Mỗi xét nghiệm đều có những ưu, nhược điểm riêng. Tuy nhiên, phương pháp xạ hình tưới máu cơ tim MPI được sử dụng phổ biến hơn cả trong các trường hợp nguy cơ trung bình và cao vì những giá trị trong chẩn đoán nó mang lại.
Để thực hiện kỹ thuật này, bệnh nhân được tiêm dược chất phóng xạ vào cơ thể theo đường tĩnh mạch. Sau đó, máy SPECT sẽ chụp lại hình ảnh của những chất này di chuyển trong tim. Những chất đánh dấu sẽ đến tim thông qua đường máu. Khi những chất đánh dấu này đến cơ tim thì những nơi nào cơ tim còn hoạt động tốt sẽ hấp thụ đầy đủ những chất đánh dấu này, còn những nơi không hấp thụ chất đánh dấu thì chính là vùng không nhận đủ máu hoặc có thể đã bị hư hại bởi nhồi máu cơ tim.
Để cụ thể hơn, quá trình tạo ảnh xạ hình tưới máu cơ tim bằng máy SPECT được mô tả như sau: Trong thực tế, quả tim được nuôi dưỡng bởi 3 nhánh động mạch gồm động mạch vành phải, động mạch vành trái và động mạch liên thất trước. Trong phần nguyên lý tạo ảnh xạ hình tưới máu cơ tim, tác giả giả sử quả tim được nuôi bởi 2 động mạch là động 11 mạch phải và động mạch trái (hình 1. Động mạch phải không bị sơ vữa, máu lưu thông tốt. Động mạch trái bị sơ vữa, lưu lượng máu lưu thông bị hạn chế.
Đặc trưng hình ảnh khuyết xạ trên xạ hình tưới máu cơ tim Dược chất phóng xạ Tc99m được tiêm vào người bệnh nhân, theo cơ chế sinh lý sẽ bị cơ tim bắt giữ.