CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG TIỆN CHẠY BẰNG ĐIỆN VÀ GIỚI THIỆU VỀ XE BUÝT ĐIỆN VINFAST CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG GẦM CHƯƠNG 4: HỆ THỐNG TRUYỀN ĐỘNG CHƯƠNG 5: HỆ THỐNG PIN VÀ ĐIỆN CAO ÁP CHƯƠNG 6: QUY TRÌNH BẢO DƯỠNG VÀ CÁC HƯ HỎNG CHƯỜNG 7: KẾT LUẬN VÀ KHIẾN NGHỊ 1. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu những đặc điểm cấu tạo của động cơ, hệ thống điện cao áp, thấp áp, pin của hãng xe VinFast. Từ đó, chúng hiểu hơn về xe và hiểu được ưu nhược điểm của từng hệ thống trên xe. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu về hệ thống gầm, hệ thống truyền động, hệ thống treo và hệ thống pin trên xe buýt điện VinFast.
Các hư hỏng thường gặp và cách khắc phục trên xe. Đối tượng nghiên cứu Xe buýt điện VinFast. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình hoàn thành đề tài, chúng em đã áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu và kết hợp các phương pháp này. Những phương pháp mà chúng em đã áp dụng rất nhiều là: - Phương pháp tìm kiếm tài liệu của nước ngoài và biên dịch.
- Phương pháp tham khảo tài liệu về ô tô điện có tại thư viện trường. - Phương pháp tìm kiếm và thu thập thông tin từ internet, sau đó chọn lọc, phân tích, tổng hợp, so sánh để đưa được những thông tin phù hợp và tốt nhất. 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG TIỆN CHẠY BẰNG ĐIỆN VÀ GIỚI THIỆU VỀ XE BUÝT ĐIỆN VINFAST 2. Tổng quan về sự phát triển xe điện trên thế giới Phương tiện tương lai như xe điện lại có lịch sử hình thành cách ngày nay cả hàng trăm năm.
Hiện nay, việc nghiên cứu và phát triển xe điện được rất nhiều nước lớn, có chiều dài về nền công nghiệp ô tô cũng đang rất chú trọng phát triển trong đó có Việt Nam chúng ta. Ngược dòng lịch sử trở lại những năm 1827, ta có thể thấy được sự hiện diện của một chiếc động cơ điện thô sơ nhưng khả dụng được trang bị stato, roto và cổ góp đầu tiên trên thế giới do một người mục sư người Hungary chế tạo, Ányos Jedlik. Một năm sau đó, ông đã dùng nó cho một chiếc xe tí hon.1: Động cơ điện của Jedlik Vài năm sau, vào năm 1835, giáo sư Sibrandus Stratingh (1785–1841) của Đại học Groningen, Hà Lan, đã chế tạo một chiếc ô tô điện quy mô nhỏ và Robert Anderson của Scotland được cho là đã chế tạo một chiếc xe điện thô sơ. Giữa những năm 1832 và 1839, những chiếc ô tô điện thử nghiệm ban đầu cũng di chuyển trên đường ray.
Năm 1835, thợ rèn và nhà phát minh người Mỹ Thomas Davenport (1802– 1851) đã chế tạo một đầu máy điện đồ chơi. Nó được cung cấp năng lượng bởi một động cơ điện nguyên thủy mà ông đã chế tạo vào năm trước, bắt nguồn từ nam châm điện của Henry. Doanh nhân và nhà phát minh người Scotland Robert Davidson (1804–1894), theo mốt điện thời bấy giờ, bắt đầu thử nghiệm động cơ điện vào năm 1827 và tạo ra đầu máy điện kích thước thật đầu tiên có tên là “Galvani” vào năm 1842. Nó đã được thử nghiệm trên Edinburgh- Tuyến Glasgow cùng năm đó, với tốc độ 4 dặm/giờ mà không có hành khách cũng như hàng hóa trên tàu.
Chiếc xe bốn bánh này chạy bằng pin dùng một lần, giống như tất cả các loại xe điện khác thời bấy giờ. Giải pháp tương tự đã được áp dụng bởi nhà thí nghiệm điện người Mỹ Charles Grafton Page (1812–1868), khi vào năm 1851, ông chế tạo một đầu máy chạy bằng 3 động cơ điện pittông của mình. Đường ray dẫn điện mở ra khả năng đặt pin ngoài ô tô, việc sử dụng đường ray làm dây dẫn đã được cấp bằng sáng chế vào năm 1840 ở Anh và năm 1847 ở Hoa Kỳ. Thế nhưng những nghiên cứu này đều không phù hợp và khả thi để đưa vào khai thác thực tế.
Rất nhiều năm sau đó cũng đã có hàng loạt phát minh về động cơ, pin và sạc, thế nhưng những tiến bộ này lại một lần nữa gặp nhiều khó khăn để có thể phát triển một cách công nghiệp do vẫn sử dụng nguồn năng lượng là pin sắt/kẽm dùng một lần, dẫn đến chi phí vận hành quá cao. Năm 1880, Gustave Trouve đã tiến hành cải tiến một động cơ cỡ nhỏ của hãng Siemens phát triển kết hợp với pin sạc. Hệ thống động cơ của ông được gắn vào chiếc xe 3 bánh của James Starley đây cũng chính là chiếc xe 3 bánh điện đầu tiên trên thế giới được mọi người đón chào và công nhận.Tuy nhiên phải đến năm 1884 thì chiếc ô tô điện đầu tiên trên thế giới mới được ra đời chiếc xe do Thomas Parker chế tạo tại Wolverhampton, Anh. Những năm 1890- 1891, William Morrison đã chế tạo ra chiếc xe ô tô điện 6 chỗ ngồi và có thể đạt tốc độ 23 km/h.
Đáng ghi nhận hơn cả là kỷ lục tốc độ hơn 100km/h được thực hiện bởi tay đua Camille Jenatzy trên chiếc ô tô điện có thiết kế hình dạng như một chiếc tên lửa của Jamais Contente được ghi nhận vào ngày 29/4/1899 khiến mọi người phải trầm trồ và hết sức thán phục. Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, xe điện đã tạo ra một trào lưu khiến mọi người ưa thích với những ưu điểm mà xe xăng không có được là sự êm ái, không khói bụi, mùi xăng gây khó chịu, ồn ào và gây rung lắc. Việc sử dụng động cơ điện cũng dễ dàng và nhẹ nhàng hơn rất nhiều khi không phải quay tay khởi động máy như nhiều thiết bị máy móc chạy bằng xăng hay dầu khác. Vào những năm 1900, xe điện trở thành một trào lưu thịnh hành tại Mỹ mặc dù ra đời sau Châu Âu thế nhưng đã có đến gần 34.000 phương tiện chạy bằng điện được đăng ký lưu hành chiếm đến 38% trên tổng số xe được cấp phép lưu thông.
Thế nhưng, việc phát triển thần tốc của động cơ xăng cộng với chi phí vận hành xe điện tại thời điểm đó cao hơn rất nhiều so với xe xăng chính vì vậy mà về sau xe điện càng ngày càng bị suy thoái. Phải đến giữa thế kỉ 19 khi mà thế chiến thứ 2 kết thúc đã làm cho nhiều quốc gia bị cạn kiệt và khan hiên nguồn nhiên liệu. Điều này đã khiến nhân loại rơi vào cuộc khủng hoảng xăng dầu rất lớn và giá xăng tăng cao kỷ lục vào năm 1970 khiến Mỹ đã quay lại sử dụng xe điện nhiều hơn. Lúc này thì một nhiệm vụ đặt ra cho các nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới làm mọi cách để đưa ô tô điện vào vận hành với mức giá rẻ hơn chi phí vận hành thấp hơn.
Cụ thể những hãng xe ô tô lớn trên thế giới như Chevrolet, Ford, BMW, Nissan…đã đẩy mạnh việc nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất ô tô điện và đã cho ra đời hàng loạt mẫu xe điện. 4 Năm 1960, General Motors phát triển mẫu sedan Chevrolet Corvair để thử nghiệm quá trình chuyển đổi từ động cơ đốt trong sang động cơ điện. Nhà sản xuất ô tô Mỹ kể từ đó đã tạo ra hai mẫu xe ý tưởng, Electrovair và Electrovair II. Đặc biệt, chiếc Chevrolet Electro Air II ra đời năm 1966 được trang bị động cơ AC 115 mã lực tương đương với thông số của động cơ 6 xi-lanh đương đại đã nổi đình nổi đám ngay lập tức.
Xe có phạm vi hành trình 64-128 km và tốc độ tối đa gần 130 km/h. Tuy nhiên, bộ pin oxit bạc 532 volt của Electron Air II không đáp ứng được yêu cầu về độ bền trong quá trình sử dụng. Thời lượng pin chỉ kéo dài khoảng 100 lần sạc khiến Chevrolet Electro Air II không được sản xuất thương mại.2: Chevrolet Electro Air II Tại thế vận hội Olympic Munich, năm 1972, BMW giới thiệu 2 mẫu BMW 1602e EV, 1602 Elektro-Antrieb, được sử dụng để cung cấp năng lượng cho các cuộc chạy marathon và các sự kiện đi bộ. Mẫu sedan điện BMW có phạm vi hành trình gần 70 km với tốc độ trung bình 50 km/h.
Ngoài ra, BMW 1602e có thể tăng tốc từ 0-96km/h chỉ trong 9 giây và đạt tốc độ tối đa 185km/h. Cũng như nhiều cuộc thử nghiệm xe điện cách đây khoảng 50 năm, pin là thứ giúp 1602e có tuổi thọ ngắn. Khối pin 12,6 kWh nặng tới 350 kg, khả năng ứng dụng vào sản xuất thương mại không cao.3: BMW 1602e 5 Khi EV1 nhận được phản hồi tích cực từ khách hàng vào những năm 1990 và đầu những năm 2000, GM đã có cơ hội trở thành nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Mỹ về xe điện. GM EV1 thế hệ đầu tiên ra đời năm 1996, được trang bị ắc quy chì cho phạm vi di chuyển 96-160 km.
Thông số này đã được tăng lên 160-225 km ở thế hệ thứ hai (1999-2003) do sử dụng pin hydrid kim loại niken. Bất chấp những tín hiệu tích cực từ việc cho thuê EV1, GM coi EV là một thị trường ngách sẽ không tạo ra nhiều lợi nhuận. Hãng đã thu hồi và tiêu hủy hơn 1.000 chiếc EV1, chỉ giữ lại khoảng 40 mẫu để gửi đến các trường đại học để nghiên cứu và bảo tàng để trưng bày.4: GM EV1 Trước khi Leaf đạt được một số thành công vào những năm 2010, Nissan đã phát triển một biến thể chạy điện của dòng R Nissan, gọi nó là Altra. Từ năm 1998 đến 2002, 200 chiếc Nissan Altras đã được sản xuất và bán tại Hoa Kỳ.
Hầu hết Nissan Altras được sử dụng bởi các công ty tiện ích, công ty cho thuê ô tô hoặc làm phương tiện của LAPD. Nhà sản xuất tuyên bố phạm vi hoạt động tối đa hơn 190 km, với thời gian sạc pin khoảng 4 giờ. Điểm đáng chú ý nhất của Nissan Altra là chức năng sạc cảm ứng (sạc không dây).5: Nissan Altra 6 Xe bán tải chạy điện Ford Ranger EV có trước Ford F-150 Lightning hai thập kỷ, được sản xuất từ năm 1999 đến 2002. Ranger EV đắt tiền và chủ yếu được thuê và sử dụng bởi các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ.
Ranger EV ban đầu được cung cấp năng lượng bằng ắc quy chì, nhưng đến năm thứ hai có mặt trên thị trường, chiếc bán tải này đã chuyển sang bộ ắc quy niken có công suất 26 kWh và phạm vi hoạt động khoảng 128 km. Sự phát triển xe buýt điện trên thế giới Ngày nay, một phần ba lượng khí thải nhà kính đến từ giao thông vận tải và một phần tư các hạt mịn đến từ giao thông đường bộ. Các thành phố của chúng ta đang bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm. Ô nhiễm không khí mà còn cả tiếng ồn.