chương IHII dé tài tập trung giải quyết các quy trình, giải pháp xây dựng và bảo hộ CDĐL là hoàn toàn có thể áp dụng được cho TGXXHH, cách giải quyết này sẽ hoàn chỉnh theo yêu cầu mới và quy định mới của WIPO cũng như Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Một kỳ vọng mà đề tài nghiên cứu này nhằm đạt tới là trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ xây dựng, tạo lập một tài liệu hướng dẫn dạng cẩm nang cho các doanh nghiệp, địa phương, các cơ sở sản xuất trong việc xác lập, xây dựng và bảo hộ quyền sở hữu đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá và chỉ dẫn địa lý. CHUGNG I TONG QUAN VE VAN DE BAO HO TEN GOI XUAT XU HANG HOA 1.1 Khái niệm cơ bản về tên gọi xuất xứ hàng hoá và các bình thức bảo hộ 1.1 Khái niệm cơ bản về tên gọi xuất xứ hàng hoá Chỉ dẫn xuất xứ địa lý của hàng hóa là một loại chỉ dẫn thương mại thực hiện chức năng thông tin cho người tiêu dùng về nơi hàng hóa được sản xuất. Chỉ dẫn xuất xứ địa lý của hàng hóa có thể là một dấu hiệu bất kỳ chỉ địa phương, đưới dạng từ ngữ (tên gọi/ địa danh), biểu tượng, hình ảnh.
Đối với những hàng hóa có uy tín nhất định về chất lượng hay bất kỳ tính chất nào đặc trưng cho xuất xứ địa lý, chỉ dẫn xuất xứ địa lý trở thành dấu hiệu nhận biết hàng hóa nhằm phân biệt với những sản phẩm cùng loại của các địa phương khác. Uy tín của sản phẩm càng cao thì nhu cầu bảo hộ chỉ dẫn xuất xứ địa lý chống việc sử dụng trái phép càng lớn. Đó là nhu cầu bảo vệ quyền được thông tin đúng sự thật của người tiêu dùng khi lựa chọn hàng hóa và nhu cầu bảo vệ thành quả đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp địa phương trong việc xây dựng uy tín của sản phẩm. Vì vậy, việc bảo hộ chỉ dẫn xuất xứ địa lý có cùng bản chất như bảo hộ các chỉ dẫn thương mại khác (nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại) và thuộc phạm trù pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Theo các điều ước quốc tế liên quan đến chỉ xuất xứ địa lý hàng hóa mà Việt Nam đã hoặc sẽ tham gia (Công ước Pari về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Thỏa ước Madrid về chống chỉ dẫn sai hoặc lừa dối về nguồn gốc hàng hóa; Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ - Hiệp định TRIPS), có ba loại chỉ dẫn xuất xứ địa lý của hàng hóa được bảo hộ, đó là chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ hàng hóa và chỉ dẫn địa lý: (i) Chỉ dẫn nguồn gốc-CDNG (Indications of Source) là từ ngữ hoặc dấu hiệu trực tiếp hoặc gián tiếp chỉ dẫn rằng hàng hóa có nguồn gốc từ một nước, một địa phương nào đó; (ii) Chi dan dia ly-CDDL (Geographical Indications) 1a tit ngit, dau hiệu, biểu tượng, hình ảnh chỉ một địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ địa phương đó, với điều kiện mặt hàng này có đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác chủ yếu nhờ nguồn gốc địa lý của địa phương đó; (iii) Tén gọi xuất xứ — TGXXHH (Appellations of Origin) là địa danh dùng để chỉ xuất xứ của mặt bàng từ địa phương tương ứng, với điều kiện mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, yếu tố con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó. Về nghĩa đen, các thuật ngữ nêu trên chỉ khác nhau ở hai từ “tên gọi” (địa danh) và “chỉ dẫn” (gồm địa danh và các dấu hiệu khác). Về ý nghĩa đặc định, ba đối tượng khác biệt với nhau ở các tiêu chuẩn bảo hộ, theo đó CDNG là đối tượng có nghĩa rộng nhất, bao hàm cả hai đối tượng còn lại, còn tên gọi xuất xứ là đối tượng có nghĩa hẹp nhất, thuộc cả hai đối tượng còn lại. Nói cách khác TGŒXXHH là một dạng đặc biệt của CDĐL, còn CDĐL là một dạng đặc biệt của CDNG.
Cụ thể hơn, CDNG đơn thuần chỉ đề cập tới nguồn gốc địa lý của sản phẩm, trong khi CDĐL, và TGXXHH đề cập đến cả đặc tính của sản phẩm do xuất xứ địa lý đem lại. Yêu cầu về mối quan hệ giữa sản phẩm với xuất xứ địa lý đối với TGXXHH chặt chẽ hơn so với CDĐL. Đối với TGXXHH, sản phẩm phải có chất lượng và tính chất đặc thù do điều kiện địa lý tự nhiên và con người tạo nên; còn đối với CDĐL, sản phẩm chỉ cần có một đặc tính nào đó do nguồn gốc địa lý đem lại, bất kể đó là đặc tính về chất lượng, danh tiếng hay đặc tính nào khác. Đối với TGXXHH, toàn bộ quy trình sản xuất (từ sản xuất nguyên liệu thô, đến chế biến, tinh chế sản phẩm) nhất thiết phải được thực hiện tại khu vực địa lý tương ứng, còn đối với CDĐL, chỉ cần một hoặc một số công đoạn sản xuất được thực hiện tại địa phương đã đủ tạo nên đặc tính của sản phẩm.
Như vậy, trong khái niệm về chỉ dẫn xuất xứ địa lý của hàng hoá nêu trên thì TGXXHH có phạm vi hẹp hơn cả nhưng lại có các yêu cầu về tiêu chí bảo hộ chặt chẽ hơn cả và vì vậy mà cơ chế bảo hộ đối với TGXXHH cũng mạnh hơn cả. Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ những khái niệm trên, chúng ta cần xem xét một số ví dụ cụ thể sau đây. Trong số những khái niệm nêu trên thì chỉ dẫn nguồn gốc (Indication of source) có phạm vi ý nghĩa rộng nhất. Một chỉ dẫn nguồn gốc thường gặp nhất trên thực tế là dòng chữ bằng tiếng việt “Sản xuất tại ” hoặc bằng tiếng Anh “Made ¡n.
Ví dụ, trên bao bì hoặc trên sản phẩm có ghi”. Sản xuất tại Việt Nam hoặc “Made in Việt Nam” để chỉ hang hoá có nguồn gốc từ Việt Nam, hoặc “Made in Japan” để chỉ hàng hoá được sản xuất tại Nhật Bản vv. Đôi khi chỉ dẫn nguồn gốc chỉ là một biểu tượng trực tiếp hoặc gián tiếp chỉ dẫn về một địa phương hay một nước là nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá. Chẳng hạn con chuột túi (Kanguru) là biểu tượng của Austraylia, hình ảnh con gà trống Gôloa là biểu tượng của nước Pháp hay chú gấu Misa là biểu tượng của nước Nga.
Và như vậy, khi các hình ảnh, biểu tượng trên được in trên bao bì hoặc sản phẩm sẽ là chỉ dẫn cho người tiêu dùng biết rằng hàng hoá mà họ nhìn thấy có nguồn gốc từ nước đó. Chi dan dia ly “Geographical Indications - GI” có ý nghĩa hẹp hơn chỉ dẫn nguồn gốc và gần với tên gọi xuất xứ hơn. Nó có thể là một địa danh, nhưng cũng có thể là một dấu hiệu, biểu tượng hay một hình ảnh chỉ dẫn một về địa phương nơi xuất xứ của mặt hàng từ địa phương đó. Hay nói cách khác chỉ dẫn địa lý bao gồm cả TGXXHH nhưng không chỉ giới bạn ở từ ngữ chỉ địa danh mà mở rộng tới cả các dấu hiệu, biểu tượng, hình ảnh biểu tượng cho địa danh đó.
Ví dụ, hình ảnh tháp Epphen hay Khải Hoàn Môn là biểu trưng cho thủ đô Pari của Pháp, hình ảnh điện Cremlanh biểu tượng cho thủ đô Matxcơva của Nga, hay cầu mở Tower Bridge biểu tượng cho Luân Đôn của Anh v v.Như vậy, nếu những hình ảnh, biểu tượng này được in trên bao bì, trên nhãn sản phẩm hoặc trực tiếp trên sản phẩm thì đó sẽ là chỉ dẫn nhằm làm cho người tiêu dùng hiểu rằng sản phẩm này xuất xứ từ địa phương hoặc khu vực địa lý có biểu tượng đó. Tên gọi xuất xứ hàng hoá chỉ có một dạng duy nhất là một địa danh cụ thể và có thực, có ranh giới địa lý rõ ràng, có thể là một đơn vị hành chính (làng, xã, huyện, tỉnh) hay một khu vực địa lý là nơi diễn ra toàn bộ quy trình sản xuất ra sản phẩm và sản phẩm đó phải có tính chất, chất lượng đặc thù do điều kiện địa lý (tự nhiên, con người hoặc cả hai yếu tố) tạo nên. Nói cách khác, TGXXHH là tên của một địa phương noi sản xuất ra sản phẩm có tính chất, chất lượng đặc thù (đặc sản) mà chỉ địa phương đó mới có. Như vậy, tiêu chí của một TGXXHH đầu tiên phải là tên của một địa phương, sản phẩm mang tên đó phải được sản xuất tại địa phương đó và phải có tính chất, chất lượng đặc sắc gắn liền với các điều kiện tự nhiên và con người của địa phương đó.
Ví dụ, các TGXX hàng hoá đã từ lâu trở thành nổi tiếng trên thế giới như: rượu vang Bordeaux, rượu mạnh Cognac chính là tên gọi của các vùng trồng nho và sản xuất rượu Bordeaux hay Cognac của Pháp, hay Phú Quốc đã được công nhận là TGXXHH của một loại nước mắm được sản xuất tại huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang của Việt Nam. Như vậy, về mặt bản chất TGXXHH là một dạng đặc thù của chỉ din dia ly hay chi dan nguồn gốc của hàng hoá. Trong khuôn khổ của đề tài này, chúng ta chỉ đi sâu nghiên cứu về TGXXHH như là một đối tượng SHCN được bảo hộ. Tuy nhiên, do TGXXHH là một dạng của CDĐL-một khái niệm được sử dụng rộng rãi trên Thế giới trong những năm gần đây, nên đề tài này cũng mở rộng phạm vi nghiên cứu đến CDĐL của hàng hoá, sản phẩm.
Khi dé cap đến những nội dung chung cho cả TGXXHH và CDĐL, trong Báo cáo sẽ dùng tổ hợp từ TGXXHH.2 Các hình thức bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá. a) Các hình thức bảo hộ TGXXHH phổ biến trên thế giới : Theo đánh giá của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, quyền sở hữu trí tuệ đối với các loại chỉ dẫn xuất xứ của hàng hóa được bảo hộ theo các luật quốc gia dưới ba hình thức pháp lý; pháp luật riêng về bảo hộ TGXXHH, pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa dưới dạng nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận và pháp luật chung về hoạt động thương mại, trong đó có luật chống cạnh tranh không lành mạnh và luật bảo vệ người tiêu dùng, cụ thể như sau: () Bảo hộ TGXXHH bằng hệ thống pháp luật riêng.