CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Lý do chọn đề tài: Hiện nay cơ sở để quyết định độ ưu tiên trong kế hoạch sửa chữa cầu là tiến hành kiểm định. Quy trình kiểm định được quy định chặt chẽ theo TCVN (22TCVN 243-98) [1-5]. Theo quy trình này thì việc kiểm tra chủ yếu dựa vào trạng thái chịu lực tĩnh.
Tải trọng được tạo ra dựa trên mức tải dự kiến mà cầu phải chịu. Ưu điểm của phương pháp này là cho ta số liệu biến dạng cầu dưới tác động của tải trọng đã biết rõ về giá trị và các phương án tác động của chúng được dự kiến là gây ra trạng thái biến dạng nguy hiểm nhất. Theo biện pháp này, tải dự kiến mà cầu sẽ chịu được đặt lên cầu, khả năng chịu tải được thể hiện bởi các số liệu đo: độ võng của nhịp, biến dạng, hệ số xung kích, tần số riêng, độ xê dịch các bộ phận như mố, gối, trụ,… Biện pháp này xác định các giá trị thực của các thông số cơ học tại thời điểm tổ chức kiểm định. Nếu công tác kiểm định thực hiện theo đúng chu kỳ quy định thì công tác đánh giá khả năng làm việc, dự báo tiến độ xuống cấp có thể kiểm soát được.
Tuy nhiên, một trong các nhược điểm của quy trình hiện hành về kiểm định cầu là các số liệu đo thu được trong tình trạng tĩnh, ngoại trừ tần số riêng và hệ số xung kích, được xác định bằng cách tạo tình trạng dao động tự do gây bởi một xung kích. Ngoài ra các trường hợp thử tải (giá trị, phương án đặt tải) không thể Luận Văn Thạc Sĩ 1 GVHD: GS.NGND Ngô Kiều Nhi HVTH: Nguyễn Quang Lợi bao trùm mọi tình huống thực có thể xảy ra. Do mức độ khó khăn, tốn kém nên biện pháp này chỉ được sử dụng trong những đợt kiểm tra “chính”. Chu kỳ kiểm định được UBND Tp Hồ Chí Minh đưa ra quy định tạm thời là 3 đến 5 năm tùy từng loại cầu.
Trên thực tế, tình trạng làm việc thực của cầu là tình trạng động. Hầu như, loại trừ các tải trọng không đáng kể như người đi bộ và xe đạp, mọi phương tiện cơ giới di chuyển trên cầu đều khiến cầu dao động. Biên độ dao động sẽ khác so với giá trị chuyển dịch khi tải trọng được đặt tĩnh trên cầu. Bên cạnh đó, việc xác định các đại lượng trong quá trình động lại khó hơn rất nhiều so với quá trình tĩnh.
Khoảng thời gian giữa hai lần kiểm định liên tiếp thường khá xa, do vậy tình trạng thực của cầu giữa hai lần kiểm định không thể xác định chính xác, gây khó khăn cho cơ quan quản lý kỹ thuật trong việc ra quyết định thời điểm tổ chức cũng như chỉ định bộ phận cụ thể cần bảo trì, duy tu, từ đó đưa ra các quyết định về biện pháp kỹ thuật sữa chữa. Bên cạnh đó, công tác kiểm định theo quy trình đòi hỏi nhiều chi phí nên trong thực tế việc kiểm định chỉ thực hiện ở một số ít cầu và số nhịp cũng rất hạn chế. Hiện trạng này khiến đơn vị quản lý có rất ít thông tin để đánh giá tình trạng cơ học (liên kết, cơ tính vật liệu), khả năng chịu tải thực tế của kết cấu, cũng như các biến cố ngẫu nhiên xuất hiện trên cầu. Luận Văn Thạc Sĩ 2 GVHD: GS.NGND Ngô Kiều Nhi HVTH: Nguyễn Quang Lợi Hình 1.1: Hai phương pháp chính để đánh giá tình trạng sức khỏe cầu hiện nay Luận Văn Thạc Sĩ 3 GVHD: GS.NGND Ngô Kiều Nhi HVTH: Nguyễn Quang Lợi Bảng 1.1: Ưu và nhược điểm của 2 phương pháp tuần tra và kiểm định Cách kiểm định Tuần tra (kiểm tra thủ công) Kiểm định Ưu điểm - Kiểm tra với tần suất cao - Đã biết rõ giá trị và vị trí của tải trọng (hằng ngày) - Độ tin cậy cao Nhược điểm - Chỉ phát hiện được hư hỏng - Không thể dự kiến được hết các tình ở bề mặt huống thực có thể xảy ra - Độ tin cậy thấp - Chi phí cao Hai phương pháp tuần tra và kiểm định có ưu và nhược điểm như trên bảng 1.
Ưu điểm của tuần tra là kiểm tra với tần suất cao gần như là hằng ngày tuy nhiên nhược điểm là chỉ phát hiện được hư hỏng ở bề mặt mà không phát hiện được hư hỏng bên trong cấu trúc cũng như độ tin cậy thấp. Còn kiểm định có ưu điểm là đã biết rõ giá trị và vị trí của tải trọng giúp chúng ta có thể định lượng mức độ biến dạng cũng như hư hỏng của cầu và mức độ tin cậy cao tuy nhiên nhược điểm là không thể dự kiến được hết các tình huống thực có thể xảy ra và đặc biệt là chi phí cao khiến phương pháp này ít được thực hiện, nếu có thực hiện cũng rất hạn chế. Chính vì vậy cần có một phương pháp hỗ trợ, bổ sung cho 2 phương pháp trên. Luận Văn Thạc Sĩ 4 GVHD: GS.NGND Ngô Kiều Nhi HVTH: Nguyễn Quang Lợi Hình 1.2: Phổ công suất của dao động ngẫu nhiên Phòng Thí Nghiệm Cơ Học Ứng Dụng đã đề xuất 1 phương án hỗ trợ, bổ sung cho 2 phương pháp trên đó là dùng phổ công suất (PCS) của dao động ngẫu nhiên (hình 1.2), tuy nhiên hiện tại chỉ dùng lại ở mức tìm ra quy luật chung của PCS nhưng chưa tìm được mối tương quan với 2 thông số kiểm định đó là độ võng và biến dạng.
Luận Văn Thạc Sĩ 5 GVHD: GS.NGND Ngô Kiều Nhi HVTH: Nguyễn Quang Lợi 1. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu: 1. Mục tiêu Nghiên cứu khả năng xác định vị trí, mức độ của vết cắt bởi phổ công suất của dầm Chi phí thấp Đo trong tình Phát hiện được hư trạng động hỏng bên trong cấu trúc Hình 1.3: Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu khả năng xác định vị trí, mức độ của vết cắt bởi phổ công suất của dầm. Phạm vi nghiên cứu Nhiệm vụ chính của luận văn là xác định vị trí, mức độ của vết cắt bởi phổ công suất của dầm trên mô hình thí nghiệm.
Cụ thể là tìm ra quy luật giữa phổ công suất với sự xuất hiện vết nứt mới, vị trí vết nứt và quá trình phát triển của vết nứt trên dầm dưới tác dụng của tải lưu thông. Trong phạm vi giới hạn về thời gian, nhân lực và yêu cầu của một luận văn thạc sĩ nên đối tượng chủ yếu trong nghiên cứu này là mô hình cầu có các thành phần chịu tải cơ bản với hai đầu dầm là 2 gối tựa lên trụ cầu. Luận Văn Thạc Sĩ 6 GVHD: GS.NGND Ngô Kiều Nhi HVTH: Nguyễn Quang Lợi 1. Ý nghĩa của đề tài: Nội dung nghiên cứu của đề tài phục vụ mục tiêu đề xuất một biện pháp trung gian mới giúp dự báo mức độ hư hỏng của cấu trúc cầu thông qua phân tích số liệu đo dao động tại phòng thí nghiệm cũng như thực tế của cầu ở Việt Nam.
Biện pháp này cho phép bổ sung thông tin về tình trạng cầu với tần suất cao hơn, kinh phí rẻ hơn, công tác tổ chức khả thi hơn. Dữ liệu tín hiệu được sử dụng phân tích có được từ những thiết bị điện tử chuyên dùng. Với các kết quả đạt được sẽ thực sự hỗ trợ căn cứ khoa học cho các nhà quản lý cầu lên kế hoạch duy tu bảo dưỡng cầu một các hợp lý, đúng lúc, tiết kiệm. Việc giám sát tình trạng làm việc của cầu đang là yêu cầu bức xúc đối với nước ta, là nước có hệ thống cầu lớn và đóng vai trò trọng yếu trong huyết mạch giao thông cũng như kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,… Ngoài ra, việc từng bước làm chủ khoa học và công nghệ trong công tác quản lý cầu nói riêng và trong công tác giám sát tình trạng hoạt động của các công trình xây dựng khác, các cơ hệ lớn cũng là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn, không chỉ ở Việt Nam mà còn là mối quan tâm của rất nhiều nước trên thế giới.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều công trình cầu đã được xây dựng phục vụ mức độ lưu thông ngày càng nhiều của con người. Nhưng tuổi thọ của các công trình cầu không phải là vĩnh cửu, nhiều cây cầu khi đưa vào sử dụng một thời gian dài (khoảng 10- 20 năm) đã bắt đầu nảy sinh sự xuống cấp và xuất hiện nhiều khuyết tật (hư hỏng) và gây nguy hiểm cho con người khi lưu thông trên cầu vì cầu có thể sập bất cứ lúc nào. Chính vì vậy đánh giá tình trạng hoạt động và kiểm tra khuyết tật của các công trình cầu trở thành một vấn đề cấp thiết trong xã hội. Hiện tại chỉ có biện pháp kiểm tra hư hỏng bằng cách quan sát bằng mắt hay sử dụng một số dụng cụ kiểm tra chuyên dùng như thiết bị siêu âm, súng bắn bê tông, bức xạ âm thanh,… đang được áp dụng.
Các biện pháp này có chung đặc điểm là muốn áp dụng thì phải xác định được khu vực nguy hiểm trên cấu trúc nhờ vào kinh nghiệm, đồng thời chúng có nhiều nhược điểm như độ chính xác thấp và không phát hiện hay đánh giá được các hư hỏng bên trong cấu trúc. Những năm gần đây, Luận Văn Thạc Sĩ 7 GVHD: GS.NGND Ngô Kiều Nhi HVTH: Nguyễn Quang Lợi một biện pháp khác được đề nghị là dựa vào dao động của cơ hệ dựa vào đặc điểm: khuyết tật xuất hiện trong cơ hệ sẽ làm thay đổi các các đặc trưng động học của cơ hệ như tần số riêng, dạng dao động, giảm chấn hay làm giảm độ cứng chống biến dạng ., do đó dể tìm khuyết tật trong cơ hệ thì ta phải tìm những vị trí xuất hiện những dấu hiệu trên. Kirmser (1944) là người đầu tiên nghiên cứu biện pháp này, ông đã tìm hiểu mối quan hệ giữa tần số riêng và vết nứt trên một dầm sắt. Từ đó đến nay đã xuất hiện nhiều phương pháp phát hiện khuyết tật dựa trên dao động ( Vibration based damage detection- VBDD).
Doebling và các cộng sự (1996) [6] đã thực hiện khảo sát các phương pháp phát hiện khuyết tật dựa vào dao động cũng như áp dụng các đối tượng cấu trúc khác nhau.