Mở đầu Ngày nay, ô nhiễm kim loại nặng (KLN) trong đất đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ vì mức độ độc hại của chúng mà còn là tác nhân khó phân hủy trong môi trƣờng. Bên cạnh đó, sự tích lũy KLN vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép sẽ gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời, sinh vật và môi trƣờng đất. Ô nhiễm KLN trong đất gây ra sự suy thoái chất lƣợng đất, suy giảm số lƣợng vi sinh vật (VSV) và đa dạng sinh học trong đất, ngộ độc cây trồng. Với sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp và khai thác khoảng sản nhƣ hiện nay, quy mô và cƣờng độ ô nhiễm KLN trong đất ngày càng gia tăng.
Vì vậy việc nghiên cứu và tìm kiếm các phƣơng pháp xử lý KLN trong đất là hết sức cần thiết, nhằm cải tạo và góp phần nâng cao chất lƣợng đất trong xu thế tài nguyên đất trên thế giới cũng nhƣ nƣớc ta hiện nay đang dần thu hẹp về diện tích cũng nhƣ chất lƣợng bị đe dọa bởi các nguồn ô nhiễm. Đến nay, đã có rất nhiều công nghệ xử lý KLN trong đất bằng phƣơng pháp hóa học hay vật lý,. các phƣơng pháp này hầu nhƣ tốn kém về kinh phí hay giới hạn về kỹ thuật và hạn chế về diện tích, vì vậy công nghệ khử độc bằng phƣơng pháp sử dụng thực vật (phytoremediation) đang thu hút sự quan tâm lớn bằng những ƣu điểm nổi bật: Đây là công nghệ xanh, thân thiện với môi trƣờng, ít tốn kém hơn so với các phƣơng pháp truyền thống khác. Chỉ có những loài thực vật đã biến đổi để thích nghi mới có thể tồn tại ở điều kiện môi trƣờng có hàm lƣợng KLN cao.
Trong những cơ chế hấp thụ chất ô nhiễm bằng thực vật, sử dụng cây dƣơng xỉ siêu tích lũy đƣợc biết đến và đánh giá cao nhƣ một công nghệ khắc phục tại chỗ hiệu quả, thân thiện với môi trƣờng và chi phí thấp. Hiện nay các loài dƣơng xỉ đang là đối tƣợng rất đƣợc quan tâm trong nghiên cứu nhằm loại bỏ kim loại nặng ra khỏi vùng đất ô nhiễm. Trên thế giới, các công bố về sự tƣơng tác giữa thực vật và vi sinh vật có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện biện pháp khử độc bằng thực vật đã đƣợc khẳng định. Mỗi cây chủ đều có một hoặc nhiều loài vi sinh vật nội sinh cƣ trú.
Vi khuẩn nội sinh thúc đẩy thực vật tăng trƣởng, tăng năng suất và đóng vai trò là một tác 1 nhân điều hòa sinh học, cũng nhƣ sản xuất hàng loạt các sản phẩm tự nhiên có lợi cho thực vật ký chủ mà ta có thể khai thác những tác nhân đó để ứng dụng trong y học, nông nghiệp hay công nghiệp. Sử dụng cây trồng trong khử độc KLN đã đƣợc nghiên cứu nhiều tại Việt Nam, bên cạnh đó một số nghiên cứu về vi sinh vật hấp thụ KLN và xử lý KLN cũng đã đƣợc tiến hành. Tuy nhiên, nghiên cứu về vi sinh vật nội sinh phân lập từ cây dƣơng xỉ ở vùng ô nhiễm và phối hợp chúng với cây chủ trong việc thử nghiệm khử độc ô nhiễm As vẫn còn hạn chế. Dựa trên những thành quả nghiên cứu đã thu đƣợc từ việc hấp thụ chất ô nhiễm bằng thực vật hay sử dụng VSV vào quá trình xử lý kim loại nặng trong đất, mục đích của nghiên cứu này hƣớng đến chọn lựa đƣợc đƣợc các chủng vi khuẩn nội sinh cƣ trú trên cây dƣơng xỉ nhằm kích thích sinh trƣởng của thực vật và tăng khả năng tích lũy As.
Mục đích hƣớng tới một giải pháp công nghệ xanh, hấp thu As bằng tổ hợp sinh vật bản địa (thực vật và VSV), nâng cao hiệu quả hấp thu As so với công nghệ xử lý đơn lẻ hoặc bằng thực vật, hoặc bằng VSV. Mục tiêu nghiên cứu đề tài bao gồm: 1. Phân lập, tuyển chọn vi khuẩn nội sinh trên cây dƣơng xỉ có khả năng chống chịu với As 2. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của các chủng phân lập 3.
Định danh các chủng đƣợc lựa chọn Để thực hiện mục tiêu đã đặt ra, các nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm: - Nội dung 1: Thu thập mẫu đất, mẫu cây và phân lập vi khuẩn nội sinh trên cây dƣơng xỉ - Nội dung 2: Tuyển chọn các chủng vi khuẩn nội sinh trên cây dƣơng xỉ và đánh giá khả năng sinh tổng hợp chất kích thích sinh trƣởng IAA và khả năng chống chịu As hiệu quả. - Nội dung 3: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và định danh các chủng vi khuẩn nội sinh đƣợc lựa chọn. Tổng quan về ô nhiễm Asen Asen (As) là á kim trong nhóm V-A có có khối lƣợng riêng 5,37 g/cm3, phân bố tự nhiên trong vỏ Trái Đất đá mẹ, đất, trầm tích, nƣớc và vi sinh vật (VSV) với hàm lƣợng trung bình khoảng 5mg/kg. Khi kết hợp với các nguyên tố khác As có thể có các hóa trị khác nhau +5, +3, 0, và -3.
As tham gia liên kết cộng hóa trị với nhiều kim loại và nhiều hợp chất hữu cơ ổn định. Tuy vậy, As vẫn đƣợc xem nhƣ là kim loại nặng (KLN) vì các nhà độc tố học cho rằng, KLN là những kim loại và á kim có liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trƣờng và có độc tính cao đối với cơ thể sống nhƣ Cd, Cu, Cr, Hg, Ni, Pb, Zn, As,. Trong đất, As và các KLN khác thƣờng bị khóa chặt trong cấu trúc của một số loại đá nên vô hại trong điều kiện bình thƣờng của tự nhiên. As có mặt trong hơn 368 khoáng vật khác nhau, bao gồm 213 khoáng vật hydroarsenat và arsenat, 73 khoáng vật sunfuarsenat và 40 khoáng vật intemtallit…[81].
Asen đƣợc tìm thấy trong tự nhiên ở nguồn nƣớc ngầm trên toàn thế giới. Asen có thể tồn tại ở dạng vô định hình và dạng tinh thể. Các dạng tồn tại của As Tên gọi Dạng Công thức hóa học Arsenite/ As (III) Vô cơ H2AsO3−, HAsO32−, AsO33− Arsenate/ As (V) Vô cơ H2AsO4−, HAsO42−, AsO43− Monomethylarsonic acid (MMA) Hữu cơ CH3AsO(OH)2 Dimethylarsinic acid (DMA) Hữu cơ (CH3)2AsO(OH) As trong môi trƣờng đƣợc tạo ra từ hai nguồn chủ yếu là nguồn tự nhiên (các hoạt động của núi lửa, lắng đọng từ khí quyển, sự phong hoá của đá mẹ và khoáng vật) và nguồn nhân tạo (hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng, giao thông,. Con ngƣời là nguyên nhân chủ yếu làm tăng lƣợng As trong môi trƣờng.
Hoạt động khai thác khoáng sản và luyện kim (các kim loại mầu) cũng nhƣ việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch là những hoạt động công nghiệp chủ chốt gây ra sự ô nhiễm As trong không khí, nƣớc và đất. As có trong thành phần của hơn 3 200 loại quặng và thƣờng có hàm lƣợng cao trong một số loại quặng asenua của Cu, Pb, Ag hoặc tồn tại cùng với các sunfua. Một số quặng có hàm lƣợng As cao nhất là asenopirit (FeAsS), realgar (As4S4) và orpinen (As2S3). Do quá trình phong hoá hay phun trào núi lửa, As trong các loại quặng bị rửa trôi theo nƣớc, thấm vào đất và gây ô nhiễm đất và nƣớc [7].
As đƣợc biết đến là chất gây độc đối với con ngƣời và cũng có tác động mãn tính đối với sức khỏe, cũng nhƣ gây độc gen và gây ung thƣ, nguy hiểm gấp 5 lần chì [71]. Các tác động mãn tính đến con ngƣời của As bao gồm: rối loạn tiêu hóa, thiếu máu, bệnh thần kinh ngoại biên, tổn thƣơng da, tăng sắc tố, hoại tử tứ chi, tổn thƣơng mạch máu, tổn thƣơng gan, thận và sẩy thai tự nhiên [69], [30]. Việc hít phải các hợp chất chứa As thƣờng đến từ những tiếp xúc nhỏ, nhƣ công nhân trong các ngành công nghiệp luyện kim, sản xuất thuốc trừ sâu, và trong các nhà máy điện đốt than giàu As [48]. Bên cạnh đó As còn ảnh hƣởng đến thực vật nhƣ một rào cản trao đổi chất, gây ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển và giảm năng suất, đặc biệt trong môi trƣờng thiếu photpho.
Các tác động của As đến thực vật là do ức chế hệ thống hấp thụ phosphat /As có ái lực cao gây ra các rối loạn sinh lý khác nhau ở thực vật, ức chế sự phát triển của cây và cuối cùng làm chết cây. As (III) phản ứng với các nhóm sulfhydryl của enzym và protein mô, ức chế chức năng tế bào, gây chết. As đƣợc tích lũy chủ yếu trong hệ thống rễ và nó gây ra nhiều thay đổi sinh lý, cản trở quá trình trao đổi chất, ức chế tăng trƣởng thực vật, và cuối cùng là giảm năng suất cây trồng. Nồng độ As thƣờng thay đổi từ dƣới 10 mg/kg ở đất không bị ô nhiễm, đến cao tới 300 mg/kg ở đất bị ô nhiễm [29].
Tình hình ô nhiễm Asen trên thế giới và ở Việt Nam: Tại các khu vực phát triển ở Việt Nam và trên thế giới, số điểm đất bị ô nhiễm KLN rất lớn. Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến ô nhiễm KLN trong đất, đáng kể nhất là do sự tích lũy từ chất thải của các ngành công nghiệp có liên quan đến kim loại và hoạt động khai thác khoáng sản. Các tác nhân gây ô nhiễm là axít, 4 kim loại nặng, xianua, các loại khí độc,. Trong những năm gần đây, ô nhiễm As đã trở thành một vấn đề rất đƣợc quan tâm bởi độc tính cũng nhƣ sự phân bố rỗng rãi của nó trong các hợp phần khác nhau của tự nhiên nhƣ trong nguồn nƣớc ngầm và nƣớc mặt.
* Tình trạng As trong đất trên thế giới: Các nhà khoa học của Viện nghiên cứu Địa lý và Tài nguyên thiên nhiên ở Viện Hàn lâm Khoa học Bắc Kinh, Trung Quốc [19-22] đã phát hiện đất ở nhiều khu vực có chứa As ở mức cao nhƣ ở vành đai vàng là 1342 mg/kg và ở vành đai thủy ngân là 509 mg/kg. Kết quả nghiên cứu của C.Chen cho thấy hàm lƣợng As ở vùng khai thác khoáng sản Dexing cao hơn giới hạn cho phép là 60 lần. Các hoạt động khai thác mỏ vàng đã làm cho đất và nƣớc ở bang Minas Gerais của Brazil bị ô nhiễm As. Các nghiên cứu cho thấy, hàm lƣợng As trong đất lớn hơn 100 mg/kg cao hơn tiêu chuẩn cho phép của FAO/WHO về hàm lƣợng As trong đất nông nghiệp nhiều lần [37].
Tại Thái Lan, các chất thải có chứa As từ quá trình khai thác thiếc nhƣ arsenopyrite đã gây ô nhiễm môi trƣờng đất và nƣớc ngầm. Hàm lƣợng As trong các giếng nƣớc khoan chịu ảnh hƣởng của quá trình khai thác thiếc có nơi lên tới 5000 µg/l. Năm 1996 tại quận Ron Phibun (tỉnh Nakorn Si Thammat) là nơi bị ảnh hƣởng bởi ô nhiễm As đã có khoảng hơn 1000 ngƣời đã mắc các chứng bệnh về da [76].