CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC NAM, NỮ CHUNG SỐNG VỚI NHAU NHƯ VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN 1. Khái niệm, đặc điểm, thực trạng của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn 1. Khái niệm nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người, dưới sự tác động của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Sự phát triển của xã hội đã tác động đến quá trình phát sinh, thay đổi của các hình thái hôn nhân gia đình.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò của hôn nhân gia đình trong cuộc sống mỗi con người, nhà nước ta đã ban hành Luật HN&GĐ trong đó quy định các nguyên tắc cơ bản, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa các thành viên trong gia đình với nhau, mà trước tiên phải kể đến đó là vấn đề kết hôn - sự kiện pháp lý quan trọng để tạo nên một gia đình. Dưới góc độ pháp lý, việc nam, nữ lấy nhau thành vợ chồng phụ thuộc vào việc thừa nhận của Nhà nước thông qua một nghi thức cụ thể được ghi nhận trong pháp luật2. Nghi thức kết hôn trong pháp luật của mỗi quốc gia chịu ảnh hưởng bởi phong tục, tập quán cũng như truyền thống lập pháp của mỗi nước. Trên thế giới hiện nay, xu hướng quy định về nghi thức kết hôn nhìn chung có thể chia thành bốn nhóm: Nhóm thứ nhất: Các quốc gia chỉ thừa nhận nghi thức dân sự, tức là việc kết hôn phải được đăng ký trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ví dụ: Pháp, Đức, Áo, Bỉ… Nhóm thứ hai: Các quốc gia chỉ thừa nhận nghi thức tôn giáo, điển hình là các quốc gia Hồi giáo. Nhóm thứ ba: Các quốc gia chấp nhận sự tồn tại của cả hai hình thức đó là nghi thức dân sự và nghi thức tôn giáo. Người kết hôn có thể lựa chọn một trong hai hình thức để kết hôn. Ví dụ: Mỹ, Thụy Điển… 2 Bùi Thị Mừng (2015), Chế định kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình – Vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
9 Nhóm thứ tư: Buộc thực hiện cả hai hình thức đó là nghi thức dân sự và nghi thức tôn giáo. Như vậy, đối với người theo tôn giáo thì họ phải thực hiện cả hai nghi thức này thì việc kết hôn mới có giá trị. Ví dụ: Vương Quốc Anh. Trong các xu hướng trên thì nghi thức kết hôn dân sự vẫn chiếm ưu thế, được nhiều quốc gia lựa chọn và pháp luật ghi nhận, trong đó có Việt Nam.
Pháp luật HN&GĐ của nước ta từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay đều ghi nhận nghi thức kết hôn có giá trị pháp lý là kết hôn dân sự. Theo Từ điển Tiếng Việt thì kết hôn là việc nam, nữ chính thức lấy nhau thành vợ, chồng3. Kết hôn được hiểu là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được công nhận là hợp pháp.
Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đưa ra khái niệm chính thức kết hôn như sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Như vậy, nam nữ chỉ được coi là đã kết hôn khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Dưới góc độ pháp lý, nếu nam, nữ lấy nhau thành vợ chồng theo nghi thức truyền thống hay tôn giáo mà không ĐKKH thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp. Do đó, trong khoa học pháp lý cũng xuất hiện thuật ngữ “nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không ĐKKH” để phân biệt với các trường hợp “kết hôn”.
Trước đây, thuật ngữ “chung sống như vợ chồng” đã được nhắc đến ở một số điều luật của pháp luật HN&GĐ, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình và pháp luật hình sự, có thể kể đến như: Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về việc chung sống như vợ chồng tại khoản 2 Điều 4 đó là “Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”, tuy nhiên lại không có quy định cụ thể để giải thích về thuật ngữ “chung sống như vợ chồng”, dẫn đến những cách hiểu không thống nhất. Để làm rõ điều này tại khoản 3.1 mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25 tháng 9 năm 2001 về việc hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình của Bộ luật Hình sự năm 1999 (viết tắt là Thông tư số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ) giải thích “chung 3 Hoàng Phê (2016), Từ điển Tiếng Việt, Nxb.Hồng Đức, tr. 10 sống như vợ chồng” là: “Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình.Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…”. Hướng dẫn này đã giải thích hành vi “chung sống như vợ chồng” dưới góc độ có sự vi phạm quy định cấm kết hôn với người đang có vợ, có chồng.
Tiếp đó, tại điểm d mục 2 Thông tư 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp ngày 03 tháng 01 năm 2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 06 năm 2000 của Quốc hội “Về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình” (viết tắt là Thông tư 01/2001 TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP) định nghĩa về “chung sống như vợ chồng” bằng cách liệt kê: “Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; - Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận; - Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; - Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình”. Quy định trên giải thích cho việc áp dụng quy định không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ chung sống như vợ chồng mà không ĐKKH tại đoạn 3 khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ năm 2000 đối với trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà không ĐKKH. Nếu 11 lấy quy định này làm căn cứ chung để xác định có hay không tồn tại việc chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ thì vô hình chung, quan hệ chung sống như vợ chồng không ĐKKH và có sự vi phạm điều kiện kết hôn nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật.
Khi trường hợp này xảy ra, có yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ không thể giải quyết vì không có cơ sở pháp lý để không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ do họ có sự vi phạm về điều kiện kết hôn, cũng không thể áp dụng quy định về hủy kết hôn trái pháp luật, yêu cầu chấm dứt quan hệ vợ chồng vì giữa họ không tồn tại việc ĐKKH. Do đó, chúng ta cần hiểu tinh thần của quy định này là nhằm mục đích xác định có tồn tại “hôn nhân thực tế hay không”, không phải định nghĩa chung sống như vợ chồng cho mọi trường hợp. Trong trường hợp nam, nữ đã tiến hành ĐKKH nhưng vi phạm một trong những điều kiện kết hôn theo Luật định thì bị xem là kết hôn trái pháp luật và việc kết hôn này bị hủy bằng bản án có hiệu lực của Tòa án4. Hậu quả của hủy kết hôn trái pháp luật đó là hai bên nam nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng5.
Như vậy, khi bị hủy kết hôn trái pháp luật, nam và nữ buộc phải chấm dứt “quan hệ như vợ chồng” và thời gian họ chung sống với nhau chỉ được xem là thời gian “chung sống như vợ chồng” mà không phải là thời kỳ hôn nhân. Luật HN&GĐ năm 2014 đã đưa ra định nghĩa chính thức về “chung sống như vợ chồng” tại khoản 7 Điều 3: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”. Từ quy định này, chúng ta thấy rằng việc chung sống như vợ chồng phải đủ hai dấu hiệu: Một là, chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung; Hai là, khi nam nữ tổ chức cuộc sống chung, họ coi nhau là vợ chồng. - Thứ nhất, đối với nội dung “chung sống như vợ, chồng là việc nam nữ tổ chức cuộc sống chung” Hiện nay, vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra định nghĩa thế nào được xem là “tổ chức cuộc sống chung” nhưng có thể hiểu nam nữ được xem như “tổ chức cuộc sống chung” khi hai bên tự nguyện cùng sinh sống dưới một mái nhà, xây dựng gia đình, cùng gánh vác, chia sẻ cuộc sống gia đình, có thể có con chung với nhau, tài sản chung, được hàng xóm xung quanh và người thân coi như vợ chồng.
Về cơ bản, cuộc sống của họ dưới một mái nhà như những cặp vợ chồng có ĐKKH, chỉ duy nhất khác nhau về một yếu tố đó là họ không ĐKKH. 4 Điều 16 Luật HN&GĐ năm 2000. 5 Điều 17 Luật HN&GĐ năm 2000.