Chương 1: Ở chương này luận văn khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử văn hóa của tỉnh Hà Tĩnh. Đồng thời trình bày sơ lược về tình hình giáo dục-đào tạo Hà Tĩnh từ năm 1945 đến trước khi Hà Tĩnh được tái lập năm 1991. Chương 2: Luận văn nêu lên quá trình phát triển giáo dục - đào tạo Hà Tĩnh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Tĩnh trong giai đoạn 1991-2010. Tác giả làm rõ những quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục trong giai đoạn này.
Vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Tĩnh về công tác giáo dục - đào tạo qua các giai đoạn cụ thể. Chương 3: Luận văn nêu lên những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển giáo dục - đào tạo ở Hà Tĩnh (1991-2010), qua đó đề xuất một số kiến nghị giải pháp để tham khảo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của tỉnh trong thời gian tới. 10 Chương I KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI, TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ- VĂN HÓA VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC HÀ TĨNH TRƢỚC NĂM 1991 1. Điều kiện tự nhiên từ 17°54’ đến 18°50’ vĩ Bắc và từ 103°48’ đến 108°00’ kinh Đông.
ớ 11 diện tích toàn tỉnh. dương lịch ư ịu ậu g mưa th 3 – 3 3 của 12 2 ều loài thú quý hiếm. Độ che phủ rừng đạt 52%. Thảm thực vật rừng rất đa dạng có trên 86 họ và 500 loài gỗ.
Đặc biệt có vườn quốc gia Vũ Quang với khoảng 300 loài thực vật và nhiều loài động vật quý hiếm. Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cũng là một địa điểm có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Hà Tĩnh cũng khá phong phú, có nhiều loại động, thực vật thủy sinh, tập trung phần lớn ở khu vực cửa sông như: Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu… Khoáng sản Hà Tĩnh khá phong phú, trữ lượng lớn, nằm rải rác hầu khắp các huyện trong tỉnh, từ vùng ven biển đến vùng trung du miền núi. Toàn tỉnh có 91 mỏ và điểm khoáng sản, trong đó: Nhóm kim loại có: quặng sắt nằm tại các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc.
Đặc biệt là mỏ sắt Thạch Khê với “trữ lượng ước tính 544 triệu tấn, chiếm ½ trữ lượng sắt cả nước và hiện đang xúc tiến đầu tư khai thác chế biến; mỏ vàng chủ yếu là dạng sa khoáng nằm rải rác ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh; mỏ nước khoáng Sơn Kim – Hương Sơn, ngoài ra còn có mỏ thiếc ở Hương Sơn, chì, kẽm ở Nghi Xuân… 13 Nhóm nhiên liệu: có than nâu, than đá ở Hương Khê, than bùn ở Đức Thọ Nguyên liệu chịu lửa: gồm có quaczit ở Nghi Xuân, Can Lộc; dolimit ở Hương Khê, pyrit ở Kỳ Anh. Nguyên liệu làm phân bón: ngoài than bùn còn có photphorit ở Hương Khê chất lượng tốt. Nguyên liệu xây dựng: các loại đá, cát, sỏi có khắp nơi ở các huyện trong tỉnh. Với sự đa dạng, phong phú về địa hình nên Hà Tĩnh có nhiều loại hình giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy tạo điều kiện cho người Hà Tĩnh giao lưu học hỏi giữa các vùng miền trong tỉnh và các tỉnh thành trong cả nước.
Về đường bộ, Quốc lộ 1A chạy dọc từ Bến Thủy qua Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh, Can Lộc, Thạch Hà, thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh dài 126 km. Quốc lộ 8A nối thị xã Hồng Lĩnh với cửa khẩu Cầu Treo (Hương Sơn) dài 90 km. Từ đây đi Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan rất thuận tiện, ngắn hơn so với các đường bộ khác. Quốc lộ 15A qua tỉnh Hà Tĩnh từ xã Trường Sơn – Đức Thọ đến La Khê dài 90,4 km trong đó có 15,4 km đi chung với quốc lộ 8A và đường Hồ Chí Minh.
Đường Hồ Chí Minh đi qua 3 huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang có chiều dài trên 80 km. Quốc lộ 12 nối cảng biển nước sâu Vũng Áng với cửa khẩu Cha Lo (Quảng Bình) và thị xã Thà Khẹt tỉnh Khăm Muôn (Lào) sang vùng Đông Bắc Thái Lan đang được thi công, đây là đường nối hành lang Đông – Tây ngắn nhất, đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi để khai thác tiềm năng vùng đất miền Tây Hà Tĩnh, Quảng Bình và biên giới Việt Lào. Hà Tĩnh có 28 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài 379,2 km, 45 tuyến đường liên huyện với chiều dài 1.345 km và đường ô tô từ huyện tới 259 xã, phường, thị trấn với 3.623 km, tạo nên mạng lưới giao thông thuận tiện. 14 Về đường sắt: đường sắt Bắc – Nam đi qua địa phận Hà Tĩnh dài 71 km (qua 3 huyện Đức Thọ, Vũ Quang, Hương Khê) Hải cảng: có cụm hải cảng biển Vũng Áng, với các cảng tổng hợp và cảng chuyên dụng, phục vụ công nghiệp cơ khí, luyện cán thép, đóng và sửa chữa tàu thủy, hóa dầu, đặc biệt là để giúp nước bạn Lào xuất – nhập hàng hóa, mở rộng buôn bán với các nước.
Ngoài ra còn có cảng Xuân Hải, cảng sông Hộ Độ. Hà Tĩnh còn có bến khách ngang sông trên luồng quốc gia và bến khách luồng tỉnh quản lý. Nhìn chung, Hà Tĩnh có điều kiện tự nhiên tương đối thuận tiện để phát triển kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch – dịch vụ nhất là một số ngành công nghiệp quan trọng như là công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, luyện kim, đóng tàu, cơ khí, vật liệu xây dựng, lọc hóa dầu, dịch vụ cảng biển, công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên Hà Tĩnh cũng chứa đựng những yếu tố không thuận lợi như hạn hán, khô nóng, bão, lũ, mưa, rét làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân.
Kinh tế - xã hội Thực hiện nghị quyết kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII từ tháng 8/1991 tỉnh Nghệ Tĩnh được chia làm 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Sau khi tách tỉnh, Hà Tĩnh đứng trước vô vàn những khó khăn về kinh tế - xã hội như: cơ sở hạ tầng thấp kém, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, thu nhập bình quân theo đầu người thấp, nhiều vấn đề xã hội bức xúc cần phải được tập trung giải quyết… Trong 5 năm 1991 – 1995 thực hiện những đường lối đổi mới của Đảng và nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh khóa XIII, với tinh thần tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, cùng với sự giúp đỡ to lớn có hiệu quả của trung ương, Đảng bộ, nhân dân Hà Tĩnh đã giành được nhiều thành quả quan trọng “tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 11,3%, đưa GDP bình quân đầu người tăng từ 69 USD năm 1991 lên 149 USD năm 1995 [39, tr. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực nhất là đã đưa vụ Hè – Thu, vụ Đông trở thành vụ sản xuất chính, góp phần tăng nhanh sản lượng lương thực một cách vững chắc. Nhiều công trình quan trọng 15 về kinh tế - xã hội như công sở, trường học, bệnh viện, nhà văn hóa, đường giao thông, thủy lợi, thủy điện được xây dựng và đưa vào sử dụng nhanh chóng phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong 5 năm 1996 – 2000, tỉnh Hà Tĩnh đã được sự phát triển tương đối toàn diện đồng đều trên các lĩnh vực và địa bàn và vượt nhiều chỉ tiêu quan trọng mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã đề ra “ – – – – 28,5% lên 35% trong tổ [40, tr. 322] – – chư – – nỗ – [99, tr. 59] – – 16 Môi trường đầu tư được cải thiện nhất là tại khu kinh tế Vũng Áng, khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo. Đến nay toàn tỉnh có 130 dự án được cấp giấy chứng nhận với tổng vốn đăng ký gần 250.
Hà Tĩnh đã cho 110 doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp Vũng Áng và vùng phụ cận với tổng số vốn đăng ký gần 12 tỷ USD. Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo tính đến năm 2010 đã có hơn 110 doanh nghiệp 730 hộ kinh doanh cá thể đã được cấp đăng ký kinh doanh, 9 dự án được cấp phép đầu tư số vốn gần 2000 tỷ đồng. Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả toàn diện, giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 5,64%, sản lượng lương thực bình quân đạt 47 vạn tấn/năm, riêng năm 2010 đạt 49 vạn tấn. Giá trị sản xuất đạt trên 44 triệu đồng/ha canh tác, tăng 1,9 lần so với năm 2006.
Kết cấu hạ tầng nông thôn được quy hoạch, phát triển gắn với bảo vệ môi trường, Hà Tĩnh là tỉnh dẫn đầu về xây dựng giao thông nông thôn và là tỉnh duy nhất trong cả nước được Thủ tướng Chính phủ tặng cờ thi đua xuất sắc trong 5 năm liền (2005 – 2009). Hoạt động tài chính, tín dụng, ngân hàng, thương mại, dịch vụ có nhiều bước chuyển quan trọng, thu ngân sách nội địa có bước tăng trưởng nhanh, cơ cấu nguồn thu đã có nhiều chuyển biến tích cực, tỉ trọng thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng từ 25,7% năm 2007 lên 43,8% năm 2010. Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2010 là 1. Hoạt động du lịch mạnh nhất là du lịch biển, du lịch văn hóa sinh thái và tâm linh.
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của của các ngành dịch vụ đạt 10,3%, đóng góp trên 30% tăng trưởng GDP. Văn hóa – xã hội có bước chuyển biến tích cực, đời sống tinh thần của người dân được cải thiện. Tỷ lệ “gia đình văn hóa”, “gia đình thể thao” ngày càng tăng; trên 80% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, gần 25% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao. 17 Về dân số theo thống kê năm 2010, Hà Tĩnh có 1.673 người, mật độ dân số là 212 người/km2 [21, tr.
Công tác dân số và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được nâng lên. Hệ thống y tế được cũng cố, có 83% số xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế, bình quân đạt 5,63 bác sĩ/xã. Công tác xóa đói giảm nghèo và thực hiện các chính sách xã hội có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 23,9%.