phần mở đầu và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về các tham số tới hạn và hiệu ứng từ nhiệt của vật liệu perovskite; Chƣơng 2: Các kỹ thuật thực nghiệm; Chƣơng 3: Kết quả và biện luận. Ý nghĩa khoa học của luận văn: Luận văn cho thấy việc thay thế Mn3+ có lẽ đã làm thay đổi tƣơng tác từ vi mô bên trong vật liệu nhiều hơn so với việc thay thế Mn 4+. Hệ quả là hệ trở nên bất trật tự hơn và do đó kéo theo công suất làm lạnh cũng nhƣ nhiệt độ hoạt động của vật liệu khi sử dụng trong công nghệ làm lạnh sẽ đƣợc cải thiện. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC THAM SỐ TỚI HẠN VÀ HIỆU ỨNG TỪ NHIỆT CỦA VẬT LIỆU PEROVSKITE 1.
Tổng quan về vật liệu perovskite 1. Cấu trúc tinh thể Cấu trúc của các vật liệu perovskite ABO3 lý tƣởng có ô mạng cơ sở là hình lập phƣơng trong đó A là kim loại đất hiếm, nằm ở 8 đỉnh của ô mạng, B là kim loại chuyển tiếp nằm tại tâm của lập phƣơng và ô xy nằm ở tâm của 6 mặt của hình lập phƣơng nhƣ hình 1. A và B là các iôn (cation) có bán kính khác nhau. Vì nằm ở đỉnh nên mỗi vị trí chỉ có 1/8 ion A, do vậy trong một ô mạng chỉ có 1 ion A.
Ion B nằm tại tâm ô mạng nên đóng góp nguyên 1 ion. Tại tâm của mỗi mặt, O chỉ đóng góp 1/2 ion cho ô mạng nên số ion trong 1 ô cơ sở là 3. Đây là lý do để công thức hóa học của perovskite là ABO3. Tùy theo nguyên tố ở vị trí B mà có thể phân thành nhiều họ khác nhau, ví dụ nhƣ họ manganite khi B = Mn, họ cobaltite khi B = Co.
Sau đây, chúng tôi quan tâm về hệ manganite để xem xét cụ thể các tính chất của vật liệu.1: Cấu trúc perovskite Cấu trúc tinh thể có thể thay đổi từ lập phƣơng sang các dạng khác nhƣ trực giao hay trực thoi khi các iôn A hay B bị thay thế bởi các nguyên tố khác mà hình thức giống nhƣ việc mạng tinh thể bị bóp méo đi, gọi là méo mạng Jahn-Teller [1]. 4 Đặc trƣng quan trọng của cấu trúc perovskite chính là sự là tồn tại các bát diện BO6 nội tiếp trong ô mạng cơ sở với 6 anion O 2 tại các đỉnh của bát diện. Với sự sắp xếp liên tiếp của các ô cơ sở tạo nên sự sắp xếp của các bát diện (hình 1.1b) đã tạo nên các tính chất điện từ vô cùng lý thú. Hai đỉnh đối nhau của bát diện là các anion oxy tƣơng tác thông qua cation Mn.
Hai bát diện cạch nhau tạo nên mối liên kết Mn-O-Mn. Chính liên kết này tạo nên những tƣơng tác trao đổi với các kiểu khác nhau. Tƣơng tác trao đổi giữa các cation Mn thông qua anion oxy còn phụ thuộc cả vào góc liên kết giữa các bát diện. Do vậy nó phụ thuộc không chỉ vào bản chất mà còn phụ thuộc vào cả bán kính của cation A và B.
Hầu hết các vật liệu provskite không pha tạp là các chất phản sắt từ điện môi. Khi pha tạp, tùy theo tỷ lệ hợp thức mà cấu trúc tinh thể sẽ bị biến dạng và góc liên kết B-O-B 1800, độ dài các liên kết B -O không bằng nhau nhƣ trong các cấu trúc perovskite lý tƣởng. Sự thay đổi cấu trúc tinh thể ảnh hƣởng rất lớn đến trƣờng tinh thể bát diện, nó gây ra méo mạng và là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi các tính chất điện và từ trong một khoảng rộng. Chính vì vậy mà cùng với các tính chất lý thú khác nhau, vật liệu perovskite pha tạp đƣợc nghiên cứu rất rộng rãi.
Sự tách mức năng lƣợng trong trƣờng tinh thể bát diện Trong cấu trúc bát diện BO6,vị trí của nguyên tử B (Mn ảnh hƣởng rất nhiều đến tính chất điện và từ của hợp chất. Trong các manganite, tƣơng tác tĩnh điện giữa các ion Mn3+ và O2- tạo nên trƣờng tinh thể bát diện (trƣờng tĩnh điện tạo bởi các ion O2- nằm ở đỉnh bát diện và cation Mn3+ ở tâm nhƣ (hình 1.1), trật tự quỹ đạo, sự tách mức năng lƣợng và ảnh hƣởng đến sự sắp xếp các điện tử trên các mức năng lƣợng trong trƣờng tinh thể ở lớp d của ion kim loại chuyển tiếp. Sau đây chúng ta xét đến sự tách mức năng lƣợng và ảnh hƣởng của trƣờng tinh thể bát diện đến trạng thái của các điện tử d trong ion kim loại chuyển tiếp. Đối với một nguyên tử tự do, các quỹ đạo có cùng số lƣợng tử n là có cùng suy biến và có cùng một mức năng lƣợng.
Tuy nhiên trong trƣờng tinh thể 5 bát diện, các quỹ đạo d này bị tách ra thành các mức năng lƣợng khác nhau. Theo đó, lớp vỏ điện tử 3d của kim loại chuyển tiếp Mn có có số lƣợng tử quỹ đạo l = 2 tƣơng ứng với nó là số lƣợng tử từ m = 0, ±1, ±2, nghĩa là cứ 5 hàm sóng ứng với các quỹ đạo ký hiệu là d z , d x y , d xy , d yz , d xz. Do tính đối xứng 2 2 2 của trƣờng tinh thể nên các quỹ đạo d xy , d yz , d xz chịu một lực đẩy của các ion âm nhƣ nhau nên có các mức năng lƣợng thấp nhƣ nhau gọi là quỹ đao t2g. Mức năng lƣợng này có suy biến bậc 3.
Các điện tử trên quỹ đạo d z , d x y cũng cùng 2 2 2 chịu một lực đẩy nên có cùng một mức năng lƣợng cao hơn đƣợc gọi là quỹ đạo eg với suy biến bậc 2 (hình 1. Nhƣ vậy trong trƣờng tinh thể bát diện, các quỹ đạo 3d của ion kim loại chuyển tiếp đƣợc tách ra thành 2 mức năng lƣợng. Mức năng lƣợng thấp nhất gồm các quỹ đạo d xy , d yz , d xz gọi là quỹ đao t2g suy biến bậc 3, mức năng lƣợng cao hơn gồm các quỹ đạo d z , d x y gọi là quỹ đạo eg suy biến bậc 2. Năng 2 2 2 lƣợng tách mức trƣờng tinh thể giữa trạng thái t2g và trạng thái eg cỡ 1 eV (hình 1.
Quỹ đạo eg Quỹ đạo t2g Hình 1. Các quỹ đạo eg và t2g của các điện tử 3d trong trường tinh thể bát diện. Mô tả về sự tách mức d của ion Mn3+. Hiệu ứng Jahn-Teller và hiện tƣợng méo mạng Theo lý thuyết Jahn-Teller, một phân tử có tính đối xứng cấu trúc cao với các quỹ đạo điện tử suy biến sẽ phải biến dạng để loại bỏ suy biến, giảm tính đối xứng và giảm năng lƣợng tự do.
Hiệu ứng Jahn – Teller (JT) xảy ra với các ion kim loại chứa số lẻ điện tử trong mức eg. Xét trƣờng hợp của ion Mn3+ trong trƣờng tinh thể bát diện với cấu hình điện tử 3d4 (t2g3eg1). Mức t 23g suy biến bậc 3 và chứa 3 điện tử nên chỉ có một cách sắp xếp duy nhất là mỗi điện tử nằm trên một quỹ đạo khác nhau. Tuy nhiên mức e1g suy biến bậc 2 mà lại có 1 điện tử nên sẽ có 2 cách sắp xếp sau: Thứ nhất là d z d x y : Lực hút tĩnh điện giữa ion ligan với Mn3+ theo 1 0 2 2 2 trục z sẽ yếu hơn so với trên mặt phẳng xy làm cho độ dài các liên kết Mn - O không đồng nhất: 4 liên kết Mn - O ngắn trên mặt phẳng xy và 2 liên kết Mn-O dài hơn trên trục z, loại biến dạng này gọi là méo mạng JT kiểu 1 (hình 1.
Thứ hai là d 1x y d z0 : Lực hút tĩnh điện giữa các ion ligan với ion Mn3+ theo 2 2 2 trục z sẽ mạnh hơn so với trên mặt phẳng xy làm cho 4 liên kết Mn - O dài hơn 7 trên mặt phẳng xy, và 2 liên kết Mn – O ngắn hơn trên trục z. Trƣờng hợp này gọi là méo mạng JT kiểu 2 (hình 1.4) Méo mạng kiểu 1 Méo mạng kiểu 2 Hình 1. Méo mạng kiểu Janh-Teller. Hiệu ứng JT làm cho cấu trúc lập phƣơng lý tƣởng bị biến dạng thành cấu trúc dạng trực giao.
Nó vừa mang tính vi mô (do quan sát vĩ mô không thấy hiện tƣợng này), vừa mang tính tập thể do liên kết đàn hồi giữa các vị trí méo mạng. Nếu trong vật liệu tồn tại cả 2 kiểu méo mạng trên thì ta gọi là méo mạng động (vì chúng có thể chuyển đổi qua lại lẫn nhau), còn nếu tồn tại 1 trong 2 kiểu méo mạng trên thì gọi là méo mạng tĩnh. Tuy nhiên lý thuyết JT không giải thích đƣợc cƣờng độ của méo mạng mà chỉ cho thấy biến dạng làm giảm năng lƣợng của hệ. Chính vì thế các điện tử bị định xứ hơn trong ô mạng cơ sở, dẫn đến giảm tƣơng tác sắt từ.
Ngoài méo mạng Jahn-Teller, kiểu méo mạng GdFeO3 cũng luôn đƣợc quan sát thấy trong vật liệu perovskite. Trong méo mạng kiểu GdFeO 3 thì góc liên kết Mn - O – Mn bị lệch đi khỏi 1800 do các bát diện quay đi một góc theo một trục nào đó. Nguyên nhân là sự không vừa khớp của các bán kính ion trong cấu trúc xếp chặt. Góc liên kết phụ thuộc khá nhiều vào bán kính trung bình <rA> của ion ở vị trí A và ảnh hƣởng mạnh đến các tính chất của vật liệu.
Các tƣơng tác trao đổi 1. Tương tác siêu trao đổi (Super Exchange Interaction- SE). Nhƣ ta đã thấy trong cấu trúc của hợp chất perovskite, các nguyên tử của kim loại chuyển tiếp ở vị trí B có bán kính nhỏ bị ngăn cách bởi anion O 2- ở giữa có bán kính khá lớn (1.36A0), lớn hơn nguyên tử ở vị trí B nên không có sự xen phủ trực tiếp giữa các cation kim loại chuyển tiếp. Vì thế cƣờng độ tƣơng tác trao đổi trực tiếp giữa chúng là rất yếu.
Lúc này, các cation kim loại chuyển tiếp chủ yếu tƣơng tác với nhau thông qua việc trao đổi điện tử với anion O2-. Quá trình trao đổi giữa anion O2- và cation kim loại chuyển tiếp ở vị trí B là quá trình xen phủ giữa các đám mây điện tử lai hóa trong eg của cation kim loại chuyển tiếp với đám mây điện tử đƣợc chiếm đầy p6 của anion O2- lân cận [17]. Sự chồng phủ của các quỹ đạo giữa các ion Mn và Oxy đã đƣa đến các tƣơng tác từ hết sức thú vị giữa các ion Mn thông qua ion oxy.