Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Khăm Phon Bun Na Di với đề tài "Vấn đề xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Lào hiện nay" được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội (Việt Nam), bảo vệ năm 2014, thuộc chuyên ngành Chính trị học / Chủ nghĩa xã hội khoa học (mã số 62.80.05). Luận án tiếp cận vấn đề theo định hướng nghiên cứu lý luận chính trị kết hợp tổng kết thực tiễn lịch sử và chính sách công.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều quốc gia ở Đông Âu và một số nước châu Á dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản đã đi theo con đường xây dựng chế độ dân chủ nhân dân nhằm tạo tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi giành được độc lập và giải phóng hoàn toàn đất nước vào năm 1975, do chủ quan nóng vội, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã sớm lãnh đạo cả nước tiến hành trực tiếp công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 10 năm thực hiện (1975–1985), mô hình này bộc lộ nhiều khó khăn, trở ngại do điểm xuất phát kinh tế - xã hội của Lào quá thấp, mang nặng tính chất tự cấp tự túc của nền kinh tế tiểu nông.

Đứng trước thực tiễn đó, Đại hội IV (1986) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện. Đến Hội nghị Trung ương 5 khóa IV (1988), Hội nghị Trung ương 7 khóa IV (1989) và chính thức tại Đại hội V (1991), Đảng đã xác định lại bước đi chiến lược: Cách mạng Lào đang trong giai đoạn tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tạo tiền đề từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: Mặc dù công cuộc đổi mới đã diễn ra gần 30 năm (từ 1986 đến thời điểm nghiên cứu) và đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đối ngoại, nhưng việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về chế độ dân chủ nhân dân ở Lào vẫn còn hạn chế, chưa có nhiều công trình khoa học chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống. Các nghiên cứu trước đây thường có phạm vi rộng, thời gian thực hiện ngắn hoặc chưa đi sâu khảo sát thực tế tại các ngành và địa phương của Lào.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là trên cơ sở làm rõ những tiền đề lý luận và thực tiễn, luận án tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân ở Lào, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển chế độ này.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu được đánh số như sau:

  1. Thứ nhất: Tập trung làm rõ những tiền đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân ở Lào.
  2. Thứ hai: Nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân ở Lào (từ giai đoạn xây dựng vùng giải phóng đến thời kỳ đổi mới).
  3. Thứ ba: Trình bày một số giải pháp chủ yếu để tiếp tục phát triển chế độ dân chủ nhân dân ở Lào hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiền đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Lào; quá trình xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tại Lào; các vấn đề đặt ra và các giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển chế độ dân chủ nhân dân.
  • Phạm vi không gian: Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (có đối chiếu, liên hệ kinh nghiệm lý luận và thực tiễn từ Việt Nam, Trung Quốc và các nước Đông Âu).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào hai giai đoạn lịch sử chủ yếu:
    • Giai đoạn 1965 – 1975: Giai đoạn xây dựng vùng giải phóng quy mô quốc gia và hình thành mô hình nhà nước dân chủ nhân dân.
    • Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2014: Giai đoạn tiến hành công cuộc đổi mới, xác định lại và tiếp tục phát triển chế độ dân chủ nhân dân.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài, phân chia thành hai khối tư liệu chính:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Các hướng nghiên cứu tại Lào

  1. Văn kiện của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IV (tháng 1/1988) bàn về chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IV (tháng 2/1989) xác định giai đoạn tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân; Hội nghị Trung ương 10 khóa IV (tháng 1/1991) và Nghị quyết các Đại hội V, VI, VII, VIII, IX tiếp tục cụ thể hóa các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.
  2. Tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Kay-sỏn Phôm-vi-hản: Thể hiện qua Tuyển tập tập 3 và tập 4. Tập 3 tập trung phân tích cơ cấu kinh tế nhiều thành phần gắn liền với chính sách xã hội, chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, vận dụng Chính sách Kinh tế Mới (NEP) của V.I. Lênin. Tập 4 phân tích các đặc điểm giai đoạn đầu của chế độ dân chủ nhân dân, tăng cường hiệu lực của nhà nước, vai trò của Quốc hội, Mặt trận Lào xây dựng Đất nước, chính sách dân tộc và ưu tiên giáo dục.
  3. Các công trình, đề tài khoa học tiêu biểu tại Lào:
    • Đề tài Tổng kết 5 kinh nghiệm trong lãnh đạo thực hiện đổi mới của Đảng Nhân dân Cách Mạng Lào do Chương Xômbunkhăn chủ biên (năm 2000), đúc kết 5 bài học về khối đại đoàn kết, đường lối lấy dân làm gốc, giữ vững ổn định chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và phát huy nội lực kết hợp ngoại lực.
    • Đề tài hợp tác song phương giữa Viện Khoa học Xã hội Quốc gia Lào và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam: Xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, giai đoạn tạo tiền đề từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Lào do PGS. Phạm Văn Đức và KhămPhon Bunnađi đồng chủ nhiệm (xuất bản năm 2011).
    • Đề tài hợp tác Tổng kết 25 năm đổi mới kinh tế của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào do Sômsavạt Lêngsavắt và GS.TS. Đỗ Hoài Nam đồng chủ nhiệm.
    • Các kỷ yếu hội thảo: Hội thảo "Phát huy dân chủ trong chế độ dân chủ nhân dân" (ngày 30/8/2010 tại Viêng Chăn); Hội thảo "Vấn đề xây dựng Nhà nước và pháp luật trong xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Lào" (ngày 29–30/9/2011 tại Viêng Chăn); Tham luận của TS. Khăm Phơi Panmalaythoong và Khăm Phon Bunnađi tại Hội thảo quốc tế ở Đồ Sơn (Hải Phòng, 2011).
    • 9 đề tài cấp Nhà nước do Hội đồng Khoa học Xã hội Quốc gia Lào triển khai theo tinh thần Đại hội IX về kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển bền vững, văn hóa, con người, nông nghiệp, lịch sử và chính sách ngôn ngữ.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  1. Nghiên cứu trực tiếp về con đường phát triển của Lào: Bài viết "Sự lựa chọn con đường phát triển trong quá trình đổi mới ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào" của GS. Dương Phú Hiệp (1997); cuốn sách "Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào: 20 năm xây dựng và phát triển" của Trần Cao Thành (1995); kỷ yếu hội thảo "40 năm quan hệ đặc biệt Việt - Lào: thành tựu và triển vọng" do Học viện Quan hệ quốc tế tổ chức (2002).
  2. Nghiên cứu về lý luận chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ:
    • GS. Nguyễn Đức Bình (chủ biên, 2003): Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
    • GS. Nguyễn Duy Quý (chủ biên): Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, khái quát 5 bước chuyển đổi tư duy lý luận.
    • GS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PTS. Phạm Văn Đức, PTS. Hồ Sỹ Quý (đồng chủ biên): Những quan điểm cơ bản của C.Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ.
    • GS. Lê Hữu Tầng (chủ biên): Chủ nghĩa xã hội: từ lý luận đến thực tiễn - những bài học kinh nghiệm chủ yếu.
    • GS. Dương Phú Hiệp (chủ biên): Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam (phân tích mô hình các nước Cộng hòa Trung Á thuộc Liên Xô và kinh nghiệm cải cách mở cửa của Trung Quốc).
    • GS. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên): Đổi mới và phát triển ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
    • Các công trình của Đỗ Mười (1996), Vũ Văn Phúc (2005) và chuỗi Kỷ yếu Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2000, 2003, 2004).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả nhận định các công trình trước đây đã cung cấp nền tảng lý luận ban đầu nhưng chưa giải quyết triệt để tính đặc thù của Lào trong quá trình chuyển đổi, còn thiếu dữ liệu thực tế tại các địa phương và đưa ra các giải pháp còn mang tính chung chung. Luận án khắc phục hạn chế này bằng cách:

  • Luận giải cơ sở khoa học và tính tất yếu của việc chuyển từ mô hình cải tạo xã hội chủ nghĩa trực tiếp sang giai đoạn tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân.
  • Khái quát toàn diện thực trạng gần 30 năm xây dựng chế độ trên 4 lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, đối ngoại) và đúc kết bài học kinh nghiệm.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gắn liền với điều kiện lịch sử, trình độ phát triển và cấu trúc tộc người đặc thù của Lào.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án được xây dựng trên hệ thống cơ sở lý thuyết Mác - Lênin và tư tưởng chính trị của các lãnh tụ cách mạng:

  • Lý luận Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội và thời kỳ quá độ: Quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về "cách mạng không ngừng"; quan điểm của V.I. Lênin về con đường quá độ gián tiếp của các nước nông nghiệp lạc hậu, tiểu nông đi lên chủ nghĩa xã hội qua "những chiếc cầu nhỏ" của chủ nghĩa tư bản nhà nước và Chính sách Kinh tế Mới (NEP).
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: Khái niệm "dân chủ mới" và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra; các quan điểm trong Luận cương chính trị (1930) của Trần Phú, tác phẩm Bàn về cách mạng Việt Nam (1951) và Phương châm chiến lược của Đảng Lao động Việt Nam (1960) của Trường Chinh; văn kiện Đại hội II của Đảng Cộng sản Việt Nam (1951).
  • Lý luận của phong trào cộng sản quốc tế: Tư tưởng của Gioóc Đimitrốp (tháng 9/1936 tại Quốc tế Cộng sản và các tác phẩm sau Chiến tranh thế giới thứ hai) cùng kinh nghiệm các nước dân chủ nhân dân Đông Âu; lý luận "Tân dân chủ" của Mao Trạch Đông tại Trung Quốc.
  • Tư tưởng của Chủ tịch Kay-sỏn Phôm-vi-hản và đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào: Quan điểm về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần nông - lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và định hướng chính sách xã hội vì con người.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc thể loại nghiên cứu định tính, sử dụng kết hợp 5 phương pháp khoa học chuyên ngành:

  1. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng để phân tích các văn kiện chính trị, nghị quyết đại hội, các báo cáo kinh tế - xã hội và tổng hợp thành các luận điểm lý luận.
  2. Phương pháp lôgíc - lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động của cách mạng Lào từ giai đoạn giải phóng dân tộc (1965–1975) qua giai đoạn cải tạo nóng vội (1975–1985) đến giai đoạn đổi mới (1986–2014), rút ra quy luật vận động khách quan.
  3. Phương pháp so sánh: So sánh mô hình chế độ dân chủ nhân dân tại Lào với mô hình tại các nước Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam để nhận diện điểm tương đồng và tính đặc thù.
  4. Phương pháp đi từ lý luận đến thực tiễn: Vận dụng các nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để luận giải thực tiễn xây dựng chế độ tại một nước chậm phát triển.
  5. Phương pháp điều tra thực tế: Thu thập dữ liệu thực tế từ các cơ quan nghiên cứu, ban ngành và tổ chức chính trị - xã hội tại Lào.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các văn kiện Đại hội và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (từ khóa IV đến khóa IX); văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam; tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh, Kay-sỏn Phôm-vi-hản; các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của Nhà nước Lào và các công trình nghiên cứu hợp tác giữa hai Viện Hàn lâm/Viện Khoa học Xã hội của Lào và Việt Nam.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chế độ dân chủ nhân dân và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Lào và Việt Nam. Tác giả phân tích các nghị quyết quan trọng của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào từ Hội nghị Trung ương 5 khóa IV (xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần bình đẳng trước pháp luật) đến Hội nghị Trung ương 7 khóa IV (khẳng định bước lùi cần thiết mang tính quy luật để tiếp tục xây dựng chế độ dân chủ nhân dân) và Hội nghị Trung ương 10 khóa IV (hoàn thiện nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội).

Chương này cũng tổng thuật các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về thời kỳ quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, làm rõ sự tương đồng và khác biệt về điều kiện lịch sử giữa hai quốc gia, qua đó xác lập vị trí học thuật và tính độc lập của đề tài luận án.

Chương 2: Những tiền đề lý luận và thực tiễn về xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Lào

Chương 2 luận giải nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của khái niệm "dân chủ nhân dân" qua các thời kỳ lịch sử:

Giai đoạn / Không gian Tác giả / Văn kiện tiêu biểu Nội dung cốt lõi về Chế độ Dân chủ Nhân dân
Kinh điển Mác - Lênin C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin Lý luận về cách mạng không ngừng; con đường quá độ gián tiếp qua "những chiếc cầu nhỏ" (chủ nghĩa tư bản nhà nước, NEP) đối với các nước tiểu nông.
Đông Âu (từ 1936, sau 1945) G. Dimitrov, W. Gomulka, K. Gottwald Xuất hiện lần đầu tháng 9/1936 tại Quốc tế Cộng sản; là hình thức quá độ dân chủ chống phát xít, liên minh đa đảng, thực hiện cải cách ruộng đất trước khi chuyển thành chuyên chính vô sản.
Trung Quốc (từ 1940, 1949) Mao Trạch Đông Lý luận "Dân chủ mới" (Tân dân chủ), xây dựng kinh tế nhiều thành phần có sự tham gia của tư bản dân tộc; tuy nhiên giai đoạn sau 1953 đã tiến hành cải tạo ồ ạt rút ngắn thời kỳ quá độ.
Việt Nam (từ 1945, 1951) Hồ Chí Minh, Trường Chinh (Đại hội II) Chế độ dân chủ nhân dân là giai đoạn quá độ để quá độ lên CNXH; thực hiện 2 nhiệm vụ phản đế và phản phong kiến; phân biệt chuyên chính vô sản (Đông Âu) và chuyên chính dân chủ nhân dân (Việt Nam, Trung Quốc).
Lào (từ 1986, 1989, 1991) Kay-sỏn Phôm-vi-hản, LPRP Chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa; phát triển cơ cấu nông - lâm - công nghiệp - dịch vụ; thực hiện chính sách xã hội "Nhà nước và nhân dân cùng làm", ưu tiên giáo dục.

Luận án chỉ ra rằng sau năm 1945, các nước Đông Âu và Trung Quốc đều vận dụng mô hình dân chủ nhân dân nhưng nhanh chóng chuyển hóa hoặc đẩy nhanh tiến độ cải tạo quan hệ sản xuất chỉ sau một thời gian ngắn. Tại Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh và Cương lĩnh Đại hội II (1951) đã định hình rõ tính chất cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, giải quyết hài hòa nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến.

Đối với Lào, Chủ tịch Kay-sỏn Phôm-vi-hản đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể, nhấn mạnh rằng chế độ dân chủ nhân dân là một giai đoạn lịch sử khách quan không thể đốt cháy giai đoạn.

Chương 3: Quá trình xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân ở Lào

Chương 3 trình bày lịch sử hình thành và phát triển của chế độ dân chủ nhân dân tại Lào qua các mốc thời gian cụ thể:

  • Giai đoạn 1965 – 1975: Xây dựng vùng giải phóng quy mô quốc gia tại căn cứ địa cách mạng, đặt nền móng phôi thai cho mô hình nhà nước dân chủ nhân dân.
  • Mốc lịch sử 1975: Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời, đánh dấu bước chuyển sang giai đoạn cách mạng mới trên phạm vi cả nước.
  • Giai đoạn 1975 – 1985: Thời kỳ trực tiếp tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa theo mô hình tập trung quan liêu, bộc lộ các hạn chế do nóng vội xóa bỏ tư hữu và ngăn cấm thị trường tự do.
  • Giai đoạn đổi mới (từ 1986 đến nay): Đường lối đổi mới toàn diện được Đại hội IV (1986) đề ra, được cụ thể hóa tại Hội nghị Trung ương 5 (1988), Hội nghị Trung ương 7 (1989) và khẳng định tại Đại hội V (1991).

Nội dung xây dựng chế độ dân chủ nhân dân theo đường lối đổi mới được tác giả phân tích trên 4 mặt thực trạng:

  1. Về kinh tế: Nền kinh tế chuyển từ tự cấp tự túc sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Năng lực sản xuất của các ngành nông - lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ tăng lên; bước đầu thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Hạn chế: Quy mô sản xuất nhỏ bé, hạ tầng kinh tế yếu kém, hệ thống tài chính - tiền tệ còn nhiều bất cập, sức cạnh tranh của doanh nghiệp thấp.
  2. Về chính trị: Giữ vững ổn định chính trị, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước Dân chủ Nhân dân; phát huy vai trò của Mặt trận Lào xây dựng Đất nước và các tổ chức đoàn thể. Hạn chế: Bộ máy hành chính còn quan liêu, hiệu lực thi hành pháp luật chưa nghiêm.
  3. Về văn hóa - xã hội: Thực hiện chính sách đoàn kết, bình đẳng giữa các bộ tộc; bước đầu nâng cao chất lượng giáo dục và chăm sóc y tế; bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Hạn chế: Trình độ dân trí còn thấp, chênh lệch mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng miền, các tộc người còn lớn; thiếu hụt nguồn nhân lực có tay nghề.
  4. Về hoạt động đối ngoại: Thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác; tăng cường quan hệ đặc biệt với Việt Nam và mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực và quốc tế.

Bài học kinh nghiệm rút ra: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xuất phát từ thực tế khách quan, không giáo điều nóng vội; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết các bộ tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu để tiếp tục phát triển chế độ dân chủ nhân dân ở Lào

Chương 4 đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm tiếp tục hoàn thiện và phát triển chế độ dân chủ nhân dân ở Lào:

  1. Nhóm giải pháp về kinh tế: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ; quy hoạch kinh tế theo 3 vùng lãnh thổ (Bắc, Trung, Nam); hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển bình đẳng các thành phần kinh tế; cải thiện hạ tầng và môi trường đầu tư.
  2. Nhóm giải pháp về chính trị: Tăng cường vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân vững mạnh, hoạt động theo nguyên tắc pháp quyền của dân, do dân và vì dân; đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, Mặt trận Lào xây dựng Đất nước và các đoàn thể quần chúng.
  3. Nhóm giải pháp về xã hội: Thực hiện hiệu quả các chương trình xóa đói giảm nghèo; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, vùng sâu vùng xa; thực hiện chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết và tương trợ; phát triển hệ thống an sinh xã hội theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm".
  4. Nhóm giải pháp về văn hóa: Kế thừa và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống của các bộ tộc Lào; loại bỏ các hủ tục lạc hậu; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại có chọn lọc; xây dựng nền văn hóa tiến bộ, đậm đà bản sắc dân tộc.
  5. Nhóm giải pháp về phát triển con người: Đặt giáo dục và đào tạo làm quốc sách hàng đầu, đi trước một bước; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  6. Nhóm giải pháp về an ninh, quốc phòng và đối ngoại: Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng nền quốc phòng toàn dân; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Lào - Việt Nam và chủ động hội nhập quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các luận điểm lý luận mácxít, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Kay-sỏn Phôm-vi-hản về thời kỳ quá độ của các nước tiểu nông tiến lên chủ nghĩa xã hội.
  • Luận chứng khoa học về tính tất yếu khách quan của giai đoạn xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân tại Lào, khẳng định việc Đảng Nhân dân Cách mạng Lào chuyển từ chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa trực tiếp sang tiếp tục xây dựng chế độ dân chủ nhân dân là một quyết định đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển lịch sử - tự nhiên.
  • Làm rõ nội hàm cấu trúc kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của chế độ dân chủ nhân dân trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá có hệ thống, khách quan thực trạng gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tại Lào (1986–2014), chỉ rõ các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho công tác hoạch định đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.
  • Xây dựng hệ thống 6 nhóm giải pháp toàn diện, cụ thể và có tính khả thi nhằm tháo gỡ các rào cản về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người và an ninh đối ngoại tại Lào.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Do phạm vi nghiên cứu trải dài qua nhiều giai đoạn lịch sử phức tạp (từ 1965 đến 2014) trên phạm vi toàn quốc, một số khía cạnh thực trạng ở cấp địa phương vùng sâu, vùng xa của các bộ tộc Lào chưa được khảo sát thực địa một cách đồng đều và chi tiết.
  • Các phân tích định lượng về số liệu kinh tế và cơ cấu xã hội chủ yếu dựa trên các báo cáo thứ cấp và kết quả của các đề tài cấp viện/cấp nhà nước đã công bố, chưa triển khai được các cuộc điều tra xã hội học quy mô lớn do giới hạn nguồn lực.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Đi sâu nghiên cứu chuyên đề về xây dựng Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân ở Lào trong điều kiện một đảng cầm quyền.
  • Nghiên cứu thực trạng biến đổi cơ cấu giai cấp - xã hội dưới tác động của kinh tế thị trường nhiều thành phần tại các vùng kinh tế trọng điểm của Lào.
  • Khảo sát chuyên sâu chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với các bộ tộc thiểu số và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc Lào trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học cho Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Viện Khoa học Xã hội Quốc gia Lào, Hội đồng Lý luận Trung ương và các cơ quan quản lý nhà nước của Lào trong việc hoàn thiện chính sách phát triển chế độ dân chủ nhân dân.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên ngành Chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng và Quan hệ quốc tế tại các học viện, trường đại học của Lào và Việt Nam.
  • Nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế: Hữu ích cho các học giả nghiên cứu về lịch sử cách mạng Đông Dương, phong trào cộng sản quốc tế và quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào chuyển từ trực tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội sang tiếp tục xây dựng chế độ dân chủ nhân dân?

Sau năm 1975, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào chủ trương tiến thẳng lên xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng gặp nhiều khó khăn do: (1) Xuất phát điểm kinh tế quá thấp, mang nặng tính tự cấp tự túc; (2) Nhận thức trước đây có phần nóng vội khi xóa bỏ sở hữu tư nhân và áp dụng cơ chế quản lý tập trung quan liêu; (3) Nhiệm vụ cách mạng dân chủ trước năm 1975 chưa được thực hiện đầy đủ, mới chỉ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Do đó, Hội nghị Trung ương 7 khóa IV (1989) và Đại hội V (1991) đã điều chỉnh đường lối, xác định xây dựng chế độ dân chủ nhân dân là bước đi quá độ cần thiết để tạo tiền đề vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

2. Khái niệm "dân chủ nhân dân" xuất hiện lần đầu tiên trong văn kiện phong trào cộng sản quốc tế vào thời điểm nào?

Khái niệm "dân chủ nhân dân" được đưa vào các văn kiện của phong trào cộng sản lần đầu tiên vào tháng 9 năm 1936 bởi Gioóc Đimitrốp tại cuộc họp của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, xuất phát từ thực tiễn sự kiện cách mạng tại Tây Ban Nha nhằm chỉ một phương thức quá độ đặc biệt hướng tới chủ nghĩa xã hội.

3. Tư tưởng của Chủ tịch Kay-sỏn Phôm-vi-hản về chế độ dân chủ nhân dân được trình bày tập trung trong tài liệu nào?

Tư tưởng của Chủ tịch Kay-sỏn Phôm-vi-hản được thể hiện tập trung trong Tuyển tập của ông (tập 3 và tập 4). Tập 3 đi sâu vào chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và giải quyết vấn đề xã hội theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Tập 4 lý giải các đặc điểm giai đoạn đầu của chế độ mới, tăng cường hiệu lực của Nhà nước dân chủ nhân dân, phát triển giáo dục đi trước một bước và thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo.

4. Văn kiện Đại hội II (1951) của Đảng Cộng sản Việt Nam phân loại các nước dân chủ nhân dân trên thế giới như thế nào?

Đại hội II của Đảng Cộng sản Việt Nam phân loại các nước dân chủ nhân dân thành hai nhóm: (1) Nhóm các nước dân chủ nhân dân đã đủ điều kiện thực hiện chuyên chính vô sản, gồm các nước Đông Âu; (2) Nhóm các nước dân chủ nhân dân mới thực hiện chuyên chính dân chủ nhân dân, gồm Việt Nam và Trung Quốc (trong đó trình độ của Trung Quốc được đánh giá cao hơn Việt Nam tại thời điểm đó do đã căn bản hoàn thành giải phóng dân tộc và thực hiện người cày có ruộng).

5. Luận án đề xuất bao nhiêu nhóm giải pháp chủ yếu để tiếp tục phát triển chế độ dân chủ nhân dân ở Lào?

Luận án đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp chủ yếu: (1) Nhóm giải pháp về kinh tế; (2) Nhóm giải pháp về chính trị; (3) Nhóm giải pháp về xã hội; (4) Nhóm giải pháp về văn hóa; (5) Nhóm giải pháp về phát triển con người; (6) Nhóm giải pháp về an ninh, quốc phòng và đối ngoại.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Khăm Phon Bun Na Di là công trình nghiên cứu lý luận chính trị và tổng kết thực tiễn có hệ thống về chế độ dân chủ nhân dân tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tác giả đã làm rõ các tiền đề lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Kay-sỏn Phôm-vi-hản cùng kinh nghiệm quốc tế, qua đó luận giải tính tất yếu của việc lựa chọn con đường dân chủ nhân dân tạo tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội ở một quốc gia tiểu nông. Công trình đã đánh giá khách quan bức tranh thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới tại Lào từ năm 1986 đến năm 2014 trên các lĩnh vực then chốt. Hệ thống 6 nhóm giải pháp do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu lý luận và hoạch định chính sách phát triển đất nước Lào trong giai đoạn tiếp theo.