Chương 1. nêu lên khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn cùng những yếu tổ thúc đây chạy đua vũ trang. làm rõ những khía cạnh trong thực trạng cuộc chạy đua vũ trang giữa một số cường quốc trên thế giới giai đoạn 2017 - 2022 Chương 3. đưa ra một số dự báo về xu hướng chạy đua vũ trang đến năm 2030 và hàm ý chính sách đối với Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN CUA CHẠY DUA VŨ TRANG 1. Cơ sở lý luận về chạy đua vũ trang 1. Khai niệm chạy dua vũ trang Chạy đua vũ trang là một thuật ngữ đề chỉ hành động mà hai hay nhiều quốc gia đối địch không ngừng tăng cường tiềm lực quốc phòng, sản xuất vũ khí, phát triển những vũ khí có công nghệ vượt trội so với các quốc gia khác dé tạo nên ưu thế sức mạnh quân sự, cạnh tranh, răn đe chiến lược và tranh gianh ảnh hưởng nhằm đảm bảo an ninh cho chính quốc gia đó hay gây ra chiến tranh. Về cơ bản, có ba yếu tố chính trong thuật ngữ này, trong đó: Thứ nhất, là mong muốn và nhu cầu từ các quốc gia.
Nếu một quốc gia tăng cường tiềm lực quốc phòng, quốc gia khác có thé sẽ cạnh tranh theo; thir hai, đó là một quá trình tăng tốc liên quan đến nỗ lực tập trung nguồn lực cho quốc phòng từ một quốc gia; thir ba, các nước cạnh tranh leo thang tăng cường sức mạnh quốc phòng, trong đó mỗi đối thủ cạnh tranh tập trung vào việc vượt qua những đối thủ khác. Chuyên gia quân sự Michael D. Wallace, trong bai bao năm 1979 “Các cuộc chạy đua vũ trang và leo thang”, đã định nghĩa một cuộc chạy đua vũ trang là hoạt động “liên quan đến tốc độ gia tăng bất thường trong chi tiêu quốc phòng của hai hoặc nhiều quốc gia” xuất phát từ “gia tăng cạnh tranh tiềm lực quốc phòng và không phải từ các lực lượng khác đối với sự cạnh tranh này” [Susan G. Wallace cho rằng, khái niệm chạy đua vũ trang chỉ được áp dụng “giữa các quốc gia có chính sách đối ngoại và quốc phòng phụ thuộc nhiều lẫn nhau” và những quốc gia có tiềm lực “tương đương”.
Wallace diễn giải các cuộc chạy dua vũ trang dẫn đến tốc độ gia tăng chỉ tiêu quốc phòng lớn bat thường, vượt quá mức tăng trưởng trung bình hàng năm từ 4 - 5% GDP. Các học giả khác cũng đưa ra định nghĩa về cuộc chạy đua vũ trang bằng cách sử dụng các ngưỡng định lượng khác nhau, trong khi một số định nghĩa không có các ngưỡng định lượng rõ ràng. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng trong chỉ tiêu quốc phòng hoặc lực lượng quân sự trên mức bình thường là một tiêu chí phô biến trong các tài liệu học thuật về cuộc chạy đua vũ trang trên thê giới. Khái niệm vé cường quốc Cường quốc là một khái niệm dùng trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, dé chỉ một quốc gia có chủ quyền sở hữu sức mạnh và tầm ảnh hưởng trong một khu vực địa lý hoặc trên phạm vi toàn cầu.
Những quốc gia này có sức mạnh đáng ké trong hệ thống quốc tế. Chúng được phân loại theo mức gia tăng sức mạnh bao gồm các cường quốc nhỏ, cường quốc tầm trung, cường quốc khu vực, đại cường quốc, siêu cường, hoặc bá chủ, mặc dù không có tiêu chuẩn được chấp nhận chung cho những gì định nghĩa về một trạng thái nhà nước mạnh mẽ. Trong đó, việc sở hữu các năng lực quân sự vượt trội thường được coi là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt một siêu cường như khả năng ran đe hạt nhân mạnh mẽ, cũng như khả năng thể hiện sức mạnh quân sự ở bất kỳ đâu trên thế giới là những thành phần quan trọng của việc này. Theo các học giả theo chủ nghĩa hiện thực như Hans Morgenthau và các học giả theo chủ nghĩa hiện thực như Kenneth Waltz, số lượng siêu cường là yếu tố quyết định nhiều nhất trong chính trị quốc tế.
Sự tồn tại của một, hai hoặc nhiều siêu cường (thé giới don cực, lưỡng cực hoặc da cực) quyết định sự 6n định của trật tự quốc tế, cũng như triển vọng chiến tranh và hòa bình. Lý luận về chạy dua vũ trang Chủ nghĩa hiện thực cho rằng, các cuộc chạy đua vũ trang tồn tại như một hiện tượng tất yếu và không thể xóa bỏ được trong quan hệ quốc tế. Hiện nay, trên thế giới đang xuất hiện cuộc chạy đua vũ trang giữa các cường quốc với những nguyên nhân là: Thứ nhất, dưới góc nhìn của Chủ nghĩa hiện thực, chạy đua vũ trang diễn ra là do các quốc gia tồn tại trong một môi trường vô chính phủ, không có bat kỳ một thế lực nào đứng trên tất cả các quốc gia để đảm bảo sự tồn tại cho các quốc gia này. Vì thé mà mỗi quốc gia phải tự thân xây dựng lực lượng vũ trang dé tự bảo vệ cho sự tồn tại của chính mình.
Mặt khác, trong khi sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang giúp đảm bảo an ninh cho quốc gia này thì nó cũng gây nên mối đe dọa an ninh đối với các quốc gia khác trong khu vực. Do đó, các quốc gia khác cũng phải tăng cường tiềm lực quân sự của mình dé tự đảm bao an ninh và cân bang lại mối de dọa. Tuy nhiên, hành động này đã gây nên sự bất an cho các nước khác, dẫn tới các 12 quốc gia không ngừng tăng cường cho tiềm lực quốc phòng, từ đó gia tăng ngân sách, phát triển các công nghệ quân sự mới để vượt trội so với các nước khác. Thứ hai, sức mạnh quân sự là một tiêu chí quan trọng xác lập vi thế quốc gia trên trường quốc tế.
Theo đó, một số nước có tham vọng phát triển sức năng lực quốc phòng có sức mạnh ưu thế tuyệt đối, nhằm bảo vệ vi thế siêu cường, tranh giành lợi ích chiến lược, răn đe “đánh đòn phủ đầu”, sẵn sảng sử dụng sức mạnh khuất phục, xâm chiếm lãnh thổ, tài nguyên, buộc nước khác phải tuân theo sự “dẫn dắt”, áp đặt của mình. Thứ ba, việc thiéu lòng tin, những thách thức về an ninh, cạnh tranh, đối đầu gia tăng dẫn đến các nước thay đổi chiến lược quốc phòng, gia tăng tiềm lực quân sự, không ngừng nghiên cứu, thử nghiệm và đưa vào biên chế các loại vũ khí mới, quân sự hoá không gian vũ trụ. Theo Thứ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Ryabkov (12.19), nguy cơ về một cuộc chiến tranh hạt nhân trong thời kỳ đương đại là hiện hữu do chính sách của một số nước phương Tây thường tránh thảo luận về các van dé cấp bách, can trở các kênh đối thoại, tiếp tục hủy hoại cấu trúc kiểm soát vũ khí, cố tình vạch ra đường lỗi phá hủy dé loại bỏ các cơ chế hiệp ước hiệu quả trong lĩnh vực an ninh vốn đã tồn tại qua nhiều thập ky. Thời báo Die Zeit của Đức (20.21) cũng đăng bài bình luận đánh dấu 80 năm cuộc tan công của Đức Quốc xã vào Liên Xô của Tổng thống Nga Vladimir Putin, ông đã lên tiếng về sự suy giảm hệ thống an ninh châu Âu, đồng thời cảnh báo căng thăng gia tăng và rủi ro của một cuộc chạy đua vũ trang mới ngảy càng hiện hữu.
Thứ tư, lợi nhuận lớn của ngành kinh tế quân sự sản xuất vũ khí là một nguyên nhân quan trọng khác dé các nước có nền khoa học công nghệ, công nghiệp quốc phòng phát triển kích thích chạy đua vũ trang. Thực tế, không có một ngành sản xuất nào thu được lợi nhuận tối đa và nhanh chóng như ngành sản xuất quân sự, đặc biệt là sản xuất vũ khí. Theo đó, dé tiêu thụ sản phẩm quân sự, các nước lớn gia tăng tranh giành, mở rộng thị trường xuất khâu vũ khí, bằng cách kích động chạy đua vũ trang, gây xung đột, chiến tranh, bat chấp luật pháp quốc tế. Mặt khác, vấn đề kiểm soát chạy đua vũ trang dưới góc nhìn của các học giả theo Chủ nghĩa tự do lại cho rằng, bản chất của quan hệ quốc tế là hợp tác và các 13 cuộc xung đột chỉ là những hiện tượng tạm thời trong quan hệ quốc tế.
Do đó, các cuộc chạy đua vũ trang có thé được hạn chế bằng các biện pháp hợp tác giữa các bên. Quan điểm này cho thấy phần nào tính tích cực của nó khi đã góp phần xoa dịu một sé các cuộc chạy đua vũ trang lớn trong thời kỳ hiện đại mà điển hình là các cuộc đàm phán về cắt giảm vũ khí phòng thủ chiến lược (SALT), hay các Hiệp định Cắt giảm và Hạn chế Vũ khí Tan công Chiến lược (START-I [1991], START-II [1993]) nhằm giảm số tên lửa mang đầu đạn hạt nhân giữa Liên Xô trước đây và sau này là Nga với Mỹ [Vũ Xuân Hòa, 2020, tr. Dù không thể giải quyết hoàn toàn được các vấn đề chạy đua vũ trang, nhưng các cách tiếp cận của chủ nghĩa tự do đã đem đến được những giải pháp làm giảm nhẹ tác động của vấn đề này đối với tình hình quan hệ quốc tế, từ đó góp phần làm giảm thiểu các nguy cơ chiến tranh có thê xảy ra trong nửa cuối Thế kỷ XX và những năm đầu Thế kỷ XXI. Một số cuộc chạy đua vũ trang trong lịch sử Thời kỳ cổ đại, các quốc gia đã không ngừng tiến hành các cuộc chạy đua vũ trang với quy mô lớn theo nhiều hình thức cả về chạy đua số lượng và chất lượng.
Tập sách Binh Pháp Lục Thao do Khương Thái Công thời Nhà Chu/Trung Quốc biên soạn với những nội dung liên quan đến thao lược của các nhà cầm binh Trung Quốc thời cô đại, đặc biệt là Chương Hồ Thao (Quân hình - Khí tài) đề cập đến các trang bị của Quân đội Trung Quốc đã cho thấy quan điểm chạy đua vũ trang của giới quân sự của nước này từ thời cô đại trong việc xây dựng quân đội thiên về chế tạo thêm các chiến xa vũ trang cỡ lớn hơn là tăng cường số lượng binh sĩ đơn thuần. Hay trong tác phẩm “Lịch sử cuộc chiến tranh Peloponnese” [Thucydides, 460 trước CN] của nhà sử học Hy Lạp Thucydides đã cho thấy các đồng minh Athens và đồng minh Peloponnese không ngừng gia tăng số lượng tàu chiến dé chuẩn bị cho cuộc chiến giữa Sparta va Athens (từ thế ky 5 trước Công nguyên cho tới năm 411 TCN), đại diện cho các cuộc chạy dua vũ trang điển hình của quan hệ quốc tế ở phương Tây cổ đại. Thời kỳ trung đại và cận đại, với sự đóng góp quan trọng của những phát kiến địa lý châu Âu thời kỳ trung đại, con người đã bắt đầu mở rộng và chinh phục thế giới tới những miền đất mới.