Chương 1 TỔNG QUAN 1. Vật liệu nano 1. Công nghệ nano và vật liệu nano Công nghệ nano [2,3] là tập hợp những quá trình chế tạo ra vật liệu, các chi tiết thiết bị máy móc, kĩ thuật mà phần lớn vai trò của chúng được qui định bởi đặc điểm cấu trúc, có nghĩa là đơn vị cấu trúc của chúng có kích thước rất nhỏ từ 1 đến 100 nm. Công nghệ ra đời trên cơ sở khoa học của một số ngành (lĩnh vực hoá học, vật lý, cơ học, ngành vật liệu, y sinh học và một số lĩnh vực khác của khoa học).
Công nghệ nano giống như một dòng nước chảy len lỏi vào nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ, như vậy, nó ngày càng nó đi vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Vật liệu nano [2,3] bao gồm những vật liệu trong đó ít nhất có một chiều có kích thước hình dạng nano mét. Xét về trạng thái vật liệu, cũng giống như trạng thái của vật chất trên trái đất, nó cũng chia ba trạng thái: rắn, lỏng và khí. Tuy nhiên, hiện nay, người ta nghiên cứu phần lớn là vật liệu nano ở dạng rắn, tiếp theo là trạng thái lỏng và cuối cùng là trạng thái khí.
Thông thường vật liệu nano được phân chia ra làm nhiều loại, nó phụ thuộc vào đặc điểm hình dạng, kích thước trong khoảng nào và hơn nữa là về đặc điểm cấu trúc của vật liệu. Phân loại vật liệu theo số chiều 2 Vật liệu nano được phân chia thành 4 loại về mặt cấu trúc: vật liệu nano có không chiều (0D), có một chiều (1D), có hai chiều (2D) và có ba chiều (3D) (hình 1. - Vật liệu nano có không chiều là những vật liệu mà cả ba chiều đều có kích thước gần như xác định, còn chiều tự do cho điện tử thì không còn. Ví dụ : các đám nano, hạt nano v.
- Vật liệu nano có một chiều là những vật liệu mà trong đó hai chiều có kích thước nano xác định, điện tử có thể được tự do trong một chiều (như vậy hai chiều bị cố định). Ví dụ: các dây nano và ống nano v. - Vật liệu nano có hai chiều là vật liệu mà trong đó vật liệu có một chiều mang kích thước nano, điện tử được tự do ở hai chiều. Ví dụ: các màng mỏng,.
- Vật liệu nano có ba chiều là những vật liệu hình dạng khối được tạo nên từ các vi hạt tinh thể. Bên cạnh đó, còn có vật liệu cấu trúc nano hay nanocomposite là những vật liệu mà trong cấu trúc của nó chỉ mang một phần vật liệu có kích thước nm, hay cấu trúc của nó có hai chiều, một chiều, không chiều sắp xếp đan xen cho nhau. Mặt khác, có thể phận biệt và nhận dạng vật liệu nano, dựa vào những ứng dụng khác nhau của chúng: - Vật liệu nano từ tính. Ví dụ vật liệu từ tính sắt từ Fe3O4 - Vật liệu nano kim loại: là những hạt kim loại có kích thước nano như hạt vàng (gold) - Vật liệu nano bán dẫn.
- Vật liệu nano sinh học. Giới thiệu về perovskit Perovskit là tên gọi của các khoáng vật của các oxit có sự trộn lẫn dạng perovskit (gọi tên chung là perovskit) với dạng tổng quát là ABO3 (mà trong đó, B là ion dương - cation có kích thước nhỏ hơn A). Tất cả Perovskit đều có cấu trúc giống với CaTiO3 nên người ta lấy tên này đặt tên cho các khoáng vật thuộc nhóm này. Nhà Hóa học có vai trò lớn nhất trong công cuộc nghiên cứu về perovskit là Parravano (đó là vào đầu những năm 50 của thế kỉ 20) [6].
Với công thức chung là ABO3, A là cation mang kích thước to hơn B, thường là ion của nguyên tố đất hiếm, kiềm thổ, kim loại kiềm, hay các ion có kích thước khá lớn hơn như Ca 2+, Ba2+; còn Y là ion của kim loại nhóm phụ B chứa phân lớp chưa bão hòa 3d, 4d, 5d (như Ti, Cr, Mn, Co, Cu, Zn, Ag, Fe,…) [4,8]. 3 Thực tế đã chứng minh, khoảng hơn 70 nguyên tố hóa học (trừ các nguyên tố phóng xạ) là kim loại có trong tự nhiên mà con người đã tìm thấy, chúng có cấu trúc perovskit đều bền chặt và khó phá vỡ. Một điều khá mới, đó là các perovskit cũng được tổng hợp bằng ion dương khác là A’ và B’ tạo ra perovskit có công thức là (AxA’1x)(ByB’1 -y)O3. Oxi có thể thẩm thấu qua hệ perovskit, vì trong hệ có các hạt mang điện là ion và các electron.
Trong khi đó, các vật liệu khác (không phải perovskit) thì cần phải có các điện cực hoặc dòng chuyển dời của các hạt mang điện tích tác động vào. Khi nghiên cứu về đặc tính của perovskit, điều quan trọng hơn cả đó là vị trí khuyết tật (các lỗ trống) của cation A, mà hầu như chưa gặp lỗ trống nào của cation B. Ngoài ra còn lỗ trống của các anion oxi trong hệ. Khi nung tới nhiệt độ khoảng 5000C, Các lỗ trống này tự hình thành.
Khi tăng nhiệt độ lên, các lỗ trống anion này được tạo ra liên tục, do quá trình hình thành và trao đổi lỗ trống. Vì thế, việc oxi thấm qua bề dày của hệ là điều chắc chắn xảy ra. Có nhiều nguyên nhân làm tăng dòng oxi thấm qua hệ, trong đó phải kể đến là do sự thay thế của một cation hóa trị lớn vào hệ và kết quả là xuất hiện hai loại bù đắp điện tích, tức là điện tử và ion trên áp suất riêng phần của toàn bộ mạng lưới các perovskit có liên quan mật thiết đến hoạt tính xúc tác oxi hóa. Vì vậy, ứng dụng perovskit để làm chất xúc cho phản ứng hóa học đang được nghiên cứu sâu hơn.
Ngoài ra những tính chất khác của perovskit cũng rất được chú trọng đó là tính điện từ áp điện, bán dẫn điện nhiệt, từ tính và quang điện 1. Cấu trúc lí tưởng của perovskit Dạng hình hộp lập phương là dạng cấu trúc hoàn hảo lí tưởng của perovskit. A là cation mang kích thước to hơn B, thường là ion của nguyên tố đất hiếm, kiềm thổ, kim loại kiềm, hay các ion có kích thước khá lớn hơn như Ca 2+, Ba2+; còn Y là ion của kim loại nhóm B chứa phân lớp chưa bão hòa 3d, 4d, 5d (như Ti, Cr, Mn, Co, Cu, Zn, Ag, Fe,…).Trong hệ mạng lưới cấu trúc tinh thể, A liên kết với oxi bằng 12 liên kết,còn B lại liên kết với oxi số liên kết ít hơn, chỉ có 6 [4,8]. Mạng lưới cấu trúc của perovskit thuộc hệ hình hộp lập phương CaTiO3, trong đó cation Ti nằm ở trong tâm của hình lập phương, 6 ion oxi nằm trên các mặt, 8 ion Calcium nằm trên 8 các đỉnh, mỗi cấu trúc cơ sở (tế bào) chứa một phân tử CaTiO3.
A là cation lớn, B là cation bé. Anion hay gặp với tỉ lệ lớn nhất là oxygen, sau đó là đến ion florua và Cl-, I-, S2-, hay H-. Trong mạng lưới tinh thể perovskit, vị trí khuyết tật đó là các lỗ trống của cation A, còn cation B thì tỉ lệ xuất hiện lỗ trống gần như bằng không. 4 Các vị trí khuyết tật lỗ trống của anion thường rất ít gặp và khi có thì nồng độ lỗ trống lại rất bé ví dụ chất có công thức SrTiO2.5 có tên là titanatstoti có hình dạng giống với cấu trúc SrTiO3.
Trong dạng cấu trúc lí tưởng, các nguyên tử được xếp sít vào nhau. Độ dài B - X là a/2, độ dài A - X là a 2 / 2 (a là cạnh của hình hộp lập phương). Qua đó, ta có thể xây dựng được bán kính ion rA + r X = 2 (rB + rX). Khi nghiên cứu chi tiết về perovskit, người ta thấy cấu trúc lập phương lý tưởng hoặc chỉ khuyết tật rất ít thì nó vẫn còn tồn tại dạng hợp chất ABX3.
Để xác định được sự thay đổi cấu trúc này lý tưởng nhà bác học Goldschmidt, ông đã đưa ra yếu tố tương thích t: t = rA + rX / 2 (rB + rX). Biểu thức này không những được áp dụng cho perovskit mà còn có thể sử dụng cho việc xác định bán kính của ion thu được bằng thực nghiệm ở điều kiện thường. Trong công thức lí tưởng thì giá trị t =1. Còn khi Perovskit bị lệch ra khỏi cấu trúc lí tưởng thì t mang giá trị thấp (0.
Tức là khi đó cấu trúc hình lập phương của perovskit biến thành cấu trúc tứ diện, hay mặt thoi hay cấu trúc của các hình với các thông số bất đối xứng. Cũng nhiều trường hợp, oxit kiểu perovskit có nhiều hình dạng khác nhau. Đây cũng không phải yếu tố để quyết định tới độ bền của perovskit. Mà quyết định bởi số phối trí của ion A và B là 12 hoặc (8+4) hoặc (6 + 6).
Chính vì điều trên, ta có giới hạn thấp của các bán kính cation. Với hệ oxit có giới hạn là rA > 0,90 Å; rB > 0,51Å. Cấu trúc perovskit đạt lí tưởng t = 1 thì kiểu cấu trúc này vẫn tồn tại ở dạng thấp hơn (0,75 < t < 1). Cấu trúc hình lập phương lí tưởng xuất hiện khi chỉ cần một giá trị t’rất gần với 1 trong nhiệt độ cao.
Cấu trúc lý tưởng (lập phương) của perovskit 5 Hầu hết với các trường hợp, thì việc xuất hiện những điểm khuyết tật sẽ làm cho cấu trúc tinh thể bị mất một phần đối xứng, và dẫn tới tinh thể có cấu trúc đối xứng thấp dần, đó là rhombohedral (mặt thoi), orthorhomic (trực thoi), monoclinic (đơn tà hay một nghiêng), tetragonal (tứ giác), và triclicnic (tam nghiêng hay tà nghiêng). Chính sự méo mó đó cũng xảy ra ở nhiệt độ phòng nhưng nó có thể chuyển sang cấu trúc lí tưởng hình lập phương ở nhiệt độ cao. Để chuyển được sang dạng cấu trúc lí tưởng (hình lập phương) thì nó có thể phải chuyển qua nhiều lần méo mó trung gian [4,8]. Tính chất của perovskit Về tính chất vật lí của perovskit: Trước đây các perovskit được chú trọng nghiên cứu bởi các tính chất như: tính chất từ, tính chất điện và tính quang học.
Còn tính chất hoạt tính xúc tác của perovskit được tìm hiểu vào những năm 50 của thập kỉ 20 (cụ thể năm 1952) bởi nhà bác học Parravano. Khả năng xúc tác của perovskit được quy định bởi các yếu tố như tính hấp thụ các chất tham gia phản ứng, các chất có hại cho môi trường như metyl da cam…, khả năng oxi hóa - khử của các ion trong xúc tác, tính chất axit - bazo, độ bền cơ, bền nhiệt,. vào bề mặt riêng của xúc tác.