PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG: Gồm 3 chƣơng Chƣơng 1. Quan hệ truyền thông giữa loại hình báo in và vấn đề văn hóa đọc Chƣơng 2. Phân tích thực trạng văn hoá đọc của sinh viên trên báo in (Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong, từ năm 2010 - 2013) Chƣơng 3. Nâng cao chất lƣợng tác phẩm báo chí viết về văn hoá đọc của sinh viên trên báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong 9 z NỘI DUNG Chƣơng 1 QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐỌC VÀ LOẠI HÌNH BÁO IN 1.
Lý luận chung về loại hình báo in 1.Ngôn ngữ báo in Cũng như mọi nền báo chí trên thế giới, báo in Việt Nam với tư cách là một loại hình báo chí, đảm nhận đầy đủ các chức năng và nhiệm vụ của nền báo chí Việt Nam. Tất cả các loại hình báo chí đều sử dụng ngôn ngữ để thể hiện nội dung thông tin để truyền tải đến công chúng. Nó phải đảm bảo những tính chất như tính chính xác, đầy đủ, ngắn gọn, tính đại chúng Nói đến báo in nghĩa là nói đến chữ viết và có kèm theo hình ảnh. Tính đặc trưng cơ bản nhất là là sự thống nhất giữa văn bản và hình ảnh.
Trong đó chữ viết là yếu tố quan trọng nhất, khi hình ảnh bổ sung cho chữ viết được sử dụng với mức độ vừa phải. Mặc dù mỗi yếu tố là độc lập riêng, song không thể tách rời các yếu tố này trong các bài viết. Hình ảnh giải quyết những vấn đề trực quan, chữ viết giải quyết các vấn đề trừu tượng. Vì vậy nếu thiếu một trong hai đặc tính đó sẽ làm cho báo in thiếu đi sự hấp dẫn.
Chữ viết mà công chúng nhìn thấy, đọc thấy là ngôn ngữ có tính khái quát cao. Vì ngôn ngữ báo in phải đảm bảo tính chính xác. Đây là tính chất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì báo chí có chức năng định hướng dư luận.
Chỉ cần một sơ xuất nhỏ về ngôn từ cũng có thể làm cho độc giả khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin, có thể gây ra hậu quả xã hội nghiêm trọng. Ngôn ngữ báo in cũng mang trong mình tính thông tin cao, là ngôn ngữ văn bản đặc trưng trên giấy mà không loại hình nào có. Chỉ cần đọc một bài báo, độc giả có thể nắm bắt được tường tận, chi tiết chuyện gì đã xảy ra, xảy ra như thế nào mà không cần phải chứng kiến sự kiện đó. 10 z Ngôn ngữ báo in khác với ngôn ngữ báo mạng điện tử.
Báo mạng sử dụng ngôn ngữ đa phương tiện. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy khi người đọc tìm đến báo mạng không chỉ dừng lại ở việc đọc thông tin như trên báo in, chỉ nghe như trên phát thanh, hay xem và nghe như trên truyền hình, mà ngôn ngữ của báo mạng điện tử là kết hợp của tất cả những thứ đó – là loại ngôn ngữ đa phương tiện, công chúng đến với nó có thể sử dụng hầu hết các giác quan của mình. Ngôn ngữ báo mạng có sự kết hợp nhiều phong cách trong nhiều lớp thông tin. Cụ thể trong tiếp nhận thông tin báo mạng, người ta không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin ở một tờ báo mà còn có thể liên kết với nhiều tờ báo, trang báo khác với lượng thông tin khổng lồ hơn, đồng thời còn có thể được minh họa sinh động bằng các tệp âm thanh hay các clip truyền hình mà công chúng chỉ cần nhấp chuột là họ sẽ hoàn toàn làm chủ mọi thông tin liên quan đến sự việc mà cần quan tâm.
Ngôn ngữ báo mạng ít mang dấu ấn cá nhân. Bởi lẽ nó là loại ngôn ngữ đa phương tiện sử dụng rất nhiều phương tiện truyền tải như chữ viết, hình ảnh, âm thanh, và có thể do nhiều người thể hiện. Thêm vào đó là trong một văn bản còn có nhiều lớp thông tin được chứa đựng với nhiều phong cách thể khác nhau, hòa quện vào nhau nên phong cách riêng của nhà báo khó được thể hiện rõ nét. Trong khi đó, đối với báo in, mỗi nhà báo đều theo đuổi một lĩnh vực mà mình yêu thích, thể hiện những bài viết mang đậm dấu ấn cá nhân với tâm tư, tình cảm và tâm huyết cho tác phẩm của mình.
Ngôn ngữ báo in cũng khác so với ngôn ngữ truyền hình. Ngôn ngữ truyền hình có cả hình ảnh và âm thanh. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì không còn là sản phẩm truyền hình nữa. Không giống như báo in có thể xem lại, truyền hình chỉ nhìn thấy một lần, nghe thấy một lần rồi trôi qua.
Vì thế nếu không có ngôn ngữ dễ hiểu và rõ ràng thì khán giả khó có thể nắm bắt được thông tin biên tập viên muốn truyền tải. Ngôn ngữ báo in khác với ngôn ngữ báo phát thanh. Thuộc tính cơ bản nhất của ngôn ngữ phát thanh là "tiếng", nghĩa là nó sinh ra là để "nghe". Hiệu quả đích thực được thẩm định qua thính giác.
Ngôn bản Phát thanh trước khi trở 11 z thành "tiếng" để vào tai người nghe, bắt buộc nó phải có cấu trúc câu, trật tự từ ngữ. theo qui luật tiếp nhận của thính giác. Qui luật này không đơn giản, không hoàn toàn phụ thuộc vào chủ thể tiếp nhận như khi tiếp nhận bằng thị giác. Người xem văn bản được hoàn toàn chủ động tiếp nhận nội dung theo năng lực chủ quan.
Nhưng khi "nghe" đọc văn bản tức là kênh tiếp nhận đã chuyển sang vùng thính giác, sự chủ động ấy không còn nữa. Ngôn ngữ viết dành cho người xem văn bản thế mạnh "độc quyền", họ có thể xem lại cho tới khi hiểu rõ nội dung, tức là thời gian tiêu thụ sản phẩm ngôn ngữ viết tuỳ thuộc vào người xem. Nhưng phát thanh với thế yếu "thoảng qua", thì việc đó là không thể vì người "nghe" và người "đọc" cách biệt, không thể nghe lại theo ý muốn. Mặt khác, ngôn ngữ phát thanh cũng không có hình ảnh minh hoạ kèm theo như ngôn ngữ của báo in.
Ngôn từ báo in tìm đến đích thể hiện là chất lượng chữ viết. Trong báo in, độc giả không chỉ nhận được thông tin cốt lõi, mà còn được nhà báo diễn tả lại sự kiện một cách tường tận, dễ hiểu. Vì vậy muốn sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác, nhà báo phải tuân thủ ít nhất 2 yêu cầu: thứ nhất nhà báo phải giỏi tiếng mẹ đẻ, nắm vững ngữ pháp, có vốn từ vựng rộng, chắc, và không ngừng được trau dồi; thành thạo về mặt ngữ âm; hiểu biết phong cách. Thứ hai, phải bám sát các sự kiện có thực và nguyên dạng để phản ánh, không tưởng tượng, thêm bớt.
Hai yêu cầu này có một mối quan hệ qua lại hết sức mật thiết. Giỏi ngôn ngữ mà xa rời hiện thực thì ngôn ngữ chỉ có thể “kêu” một cách rỗng tuếch, thiếu hơi ấm nóng của cuộc sống vốn là thứ có sức chinh phục mạnh mẽ với độc giả. Ngược lại, biết rõ hiện thực nhưng kém về ngôn ngữ thì cũng không thể chuyển tải thông tin một cách hiệu quả như mong muốn, thậm chí đôi khi còn mắc lỗi tai hại cho người khác hoặc cho xã hội. Ngôn ngữ báo in là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức trong nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chúng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.
Ngôn ngữ báo in được sử dụng ở những thể loại tiêu biểu là bản tin, phóng sự, tiểu phẩm… 12 z Cũng giống như các loại hình báo chí khác, ngôn ngữ báo in cũng giàu bản sắc dân tộc và có tính quốc tế. Bởi lẽ nó được viết ra nhằm phục vụ tất cả công chúng, ngôn ngữ trong sáng dễ hiểu, đại chúng để hiện tinh thần dân tộc cũng là một yêu cầu của báo in. Ngôn ngữ báo in có thể xem lại, đọc lại , không giống như truyền hình chỉ nhìn thấy một lần, nghe thấy một lần rồi trôi qua. Đồng thời văn bản báo in còn mang văn phong của khẩu ngữ đời thường, không dùng những lập luận hay cấu trúc phức tạp, văn phong “đại ngôn” hay “đao to búa lớn”, mà đó là thứ ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, nhưng không rập khuôn, sáo mòn.
Báo in với tư cách là một hệ thống thông tin xã hội đã góp phần cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho cuộc sống, góp phần nâng cao văn hoá, thông tin, giải trí cho công chúng. Mối quan hệ giữa loại hình báo in và vấn đề văn hóa đọc Cũng như ở mọi nền báo chí trên thế giới, báo in Việt Nam với tư cách là một loại hình báo chí, đảm nhận đầy đủ các chức năng và nhiệm vụ của nền báo chí Việt Nam. Mỗi loại báo chí có một đặc thù ngôn ngữ riêng của mình. Ngôn ngữ của các tác phẩm báo chí phải mang được ý nghĩa của chúng tới cho công chúng vô cùng đa dạng.
Ranh giới của công chúng trải dài từ cái mà người ta gọi là sự biết chữ sơ đẳng cho đến việc thông thạo hoàn toàn và có nhận thức tiếng mẹ đẻ với tất cả sắc thái của nó. Nhiệm vụ của người viết báo là phải làm cho ý nghĩa của các bài viết trở nên dễ hiểu trên tất cả các cấp độ đó. Như chúng ta đã biết, chức năng cơ bản, có vai trò quan trọng hàng đầu của báo chí là thông tin. Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cập các sự kiện.
Không có sự kiện thì không thể có tin tức báo chí. Với sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ như hiện nay, vai trò của báo chí trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là rất quan trọng. Công nghệ thông tin đã tạo ra sự giao lưu, hội nhập giữa các vùng, khu vực dẫn đến toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Các phương tiện thông tin của hệ thống thông tin vệ tinh phủ khắp mặt địa cầu và hệ thống cáp quang nối liền các 13 z lục địa, các dịch vụ phát thanh truyền hình và đặc biệt là dịch vụ internet đã làm cho thế giới dường như bị thu nhỏ lại.
Các phương tiện truyền thông hiện đại cho phép truyền đi mọi tin tức, hình ảnh của các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao.đến khắp mọi nơi, mọi lục địa trên hành tinh. Công nghệ thông tin hiện đại cùng với việc đa dạng hóa các bước của quá trình truyền thông đã nhanh chóng biến sự kiện địa phương thành một vấn đề toàn cầu. Chính do vậy, sức mạnh của báo chí trong quá trình định hướng dư luận là rất lớn.