chương 1, tại chương 2, tôi muốn nhấn mạnh: Các mối quan hệ và liên kết quốc tế của cảng Hải Phòng trong giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975. Vị trí và vai trò của cảng Hải Phòng. Làm rõ vị trí, vai trò của cảng Hải Phòng trong mối liên hệ với các cảng trong nước và liên kết quốc tế. Với ý nghĩa đó, cảng Hải Phòng có vai trò quan trọng trong hệ thống thương mại trong nước, khu vực và quốc tế.
12 z CHƢƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CẢNG HẢI PHÒNG TRƢỚC NĂM 1955 1. Vị trí địa lý chiến lƣợc của Hải Phòng Thành phố Hải Phòng nằm bên bờ biển Đông thuộc miền duyên hải Bắc Bộ, có diện tích 1.507,6 km2, dân số 1.200 người [38, tr.40], phía Đông thành phố là vịnh Bắc Bộ, có bờ biển dài 94km (không kể đảo Cát Bà và Bạch Long Vĩ), phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh - vùng than lớn của Tổ quốc, phía Tây và phía Nam giáp hai tỉnh Hải Dương và Thái Bình thuộc đồng bằng trù phú của châu thổ sông Hồng. Từ trung tâm thành phố đi sâu vào nội địa 100 km bằng đường bộ (theo quốc lộ số 5) hoặc đường sắt chạy song song với nó đến thủ đô Hà Nội. Từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc đi ra nước ngoài và từ nước ngoài muốn vào miền Bắc, đến thủ đô Hà Nội bằng đường biển đều phải qua cửa ngõ Hải Phòng [93, tr.
Điều đó chứng tỏ rằng, Hải Phòng nói chung và cảng biển Hải Phòng nói riêng, có vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển, giao thương, đảm bảo quốc phòng - an ninh đối với các tỉnh phía Bắc. Chính vì vậy, trong mọi thời kỳ lịch sử, việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đối với Hải Phòng - “cửa ngõ chiến lược” vô cùng quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bao quanh thành phố về các phía Bắc, phía Tây và phía Nam là các sông như: sông Đá Bạc, Bạch Đằng, Kinh Thầy, sông Hàn, sông Vân Dương, sông Luộc, sông Hóa. Các dòng sông này cũng là ranh giới tự nhiên giữa Hải Phòng với các tỉnh khác như tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Bình.
Còn lại các dòng sông Giá, sông Chanh, sông Cấm, sông Lạch Tray, sông Đa Độ, sông Văn Úc, sông Mía, sông Mới, sông Thái Bình chảy qua địa bàn thành phố theo hướng Tây - Bắc - Đông - Nam rồi đổ ra Biển Đông qua các cửa sông Bạch Đằng, Nam Triệu, Cấm, Văn Úc, Thái Bình. Các dòng sông này ngày đêm cung cấp lượng phù sa bồi đắp cho đồng ruộng thêm trù phú, tươi tốt, đồng thời cũng là một hệ thống giao thông thủy vô cùng quan trọng và thuận lợi để tỏa đi các tỉnh phía Bắc và thủ đô Hà Nội. Từ cảng Hải Phòng theo đường thủy dễ dàng đi tới các địa phương thuộc đồng bằng Bắc Bộ, 13 z cũng có thể ngược lên vùng trung du và vùng núi rừng Đông Bắc, Việt Bắc, Tây Bắc và vào cả Khu 4 và các tỉnh phía Nam. Đây là cửa ngõ giao thông vô cùng quan trọng của miền Bắc Việt Nam ta không những về đường thủy, mà còn thuận lợi cả với những tuyến đường bộ từ Bắc vào Nam.
Vùng biển Hải Phòng nằm trong vịnh Bắc Bộ trên đường hàng hải quốc tế, là một vùng biển quan trọng của Thái Bình Dương, nối liền Đông Bắc Á với Đông Nam Á. Trong vùng biển Hải Phòng có nhiều đảo và quần đảo. Đảo Cát Hải cách trung tâm thành phố 40km và quần đảo Cát Bà cách trung tâm thành phố 60km, án ngữ con đường vào cảng Hải Phòng qua cửa Nam Triệu. Xa hơn về phía đông qua quần đảo Cát Bà là đảo đèn Long Châu.
Đảo xa nhất là đảo Bạch Long Vĩ, cách đất liền 170km, “vọng gác tiền tiêu” của Hải Phòng và miền Bắc. Cảng Hải Phòng được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX bên bờ sông Cấm. Đây là cảng lớn nhất lúc bấy giờ, đầu mối giao thông quan trọng, cửa ngõ giao thương quốc tế của miền Bắc. Từ thành phố Hải Phòng có thể đi tới các nước bằng đường biển, bằng đường bộ, đường sắt, đường sông, đường hàng không rất thuận lợi.
Hải Phòng có vị trí thuận lợi về giao thông, do vậy Hải Phòng sớm trở thành nơi giao thương kinh tế, giao lưu văn hóa Việt Nam với nước ngoài. Trong lịch sử thời kỳ Bắc thuộc, nhiều thuyền buôn của Trung Hoa đã theo đường ven biển qua cửa Cấm, cửa Bạch Đằng để đến buôn bán với Giao Châu. Sau khi giành được độc lập, nhất là trong thời kỳ thịnh đạt của Đại Việt dưới thời các vương triều nhà Lý (1010-1225), nhà Trần (1225-1400), nhà Lê sơ (1428-1527), vùng cửa biển và các dòng sông lớn thuộc Hải Phòng là một trong những tuyến giao thương quốc tế quan trọng cung cấp nguồn hàng cho thương cảng Vân Đồn (thế kỷ XII-XVIII) và Phố Hiến (thế kỷ XVII-XVIII). Trong lịch sử Việt Nam, các học giả phương Bắc luôn coi Hải Phòng là “cửa ngõ đường biển” của Đại Việt [98, tr.
Các nhà địa lý, lịch sử Việt Nam thời xưa cũng nhận định nơi đây “có tiếng thứ nhất trong những chỗ xung yếu, các đời phần nhiều lập chiến công ở chỗ này” [34, tr.109] và “Đại Việt khống chế người Bắc, chỗ này là cổ họng” [76, tr. 14 z Hải Phòng có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Như vậy, vị trí địa lý của vùng đất cho Hải Phòng trở thành đầu mối giao thông quan trọng. Xa xưa, nơi đây là cửa ngõ xâm nhập của các đội quân xâm lược, là nơi qua lại buôn bán giữa nước ngoài với Kinh kỳ, phố Hiến [52, tr.
Cảng Hải Phòng trƣớc năm 1955 2. Quá trình hình thành và hoạt động của cảng Hải Phòng từ năm 1874 đến năm 1918 Cảng Hải Phòng nằm trên hữu ngạn sông Cửa Cấm, cách biển 20 hải lý (37 km) về phía Đông Bắc nằm trong vùng tam giác sông Hồng (delta du Fleuve Rouge). Tây Bắc cách thủ đô Hà Nội 103 km và Hải Dương 46 cây số, cách Quảng Yên 30 km và cách biên giới Trung Hoa chừng 200 km [30, tr. Sau cuộc khảo sát của Senez năm 1873 đến năm 1874, thực dân Pháp ký với triều Nguyễn, Hiệp ước Philastre (15-3-1874) [28, tr.22], (Hiệp ước được ký giữa triều đình Huế đại diện là Nguyễn Văn Tường với Pháp đại diệnlà Philastre [70, tr.13]), với nhiều điều khoản nặng nề, trong đó có các điều khoản liên quan đến Hải Phòng như: mở cửa biển Ninh Hải thuộc tỉnh Hải Dương (tức Hải Phòng ngày nay) cho người nước ngoài tới buôn bán, làm ăn (điều khoản 11): cùng với một viên lãnh sự và một đội quân bảo vệ đóng tại Hải Phòng để phụ trách trật tự trị an (điều khoản 13).
Theo Hiệp ước, triều đình nhà Nguyễn còn dâng toàn bộ đất Hải Phòng và quyền kiểm soát hải cảng. Từ đấy, Pháp bắt tay vào việc xây dựng cảng nhằm biến bến thuyền làng Cấm thành một quân cảng và thương cảng lớn phục vụ cho ý đồ xâm lược và vơ vét tài nguyên của Pháp [60, tr. Các đồn ải của Pháp là nơi có thể bán hàng. Tuyến đường lên Vân Nam là nơi có thể mua hàng và chở hàng theo sông Hồng ra cửa biển Hải Phòng và đến các nơi vì vậy cuộc tụ cư được thúc đẩy khá nhanh tại Hải Phòng [28, tr.
Vào cuối thế kỷ XIX, khu dân cư người Việt và người Hoa tập trung chủ yếu ở làng An Biên thuộc hữu ngạn sông Tam Bạc dần trở nên đông đúc. Nhà Nguyễn 15 z đã cho thi hành một kế hoạch chiêu tập các thương nhân đến đây mở của hiệu làm ăn, buôn bán, lập phố xá ở Hải Phòng để cầm chân quân Pháp, làm giảm bớt sự chú ý của chúng tới Hà Nội [78, tr. Ngay từ những ngày đầu chiếm được Hải phòng, tư bản Pháp đã tranh thủ vơ vét, tước đoạt nhân dân ta ráo riết bằng biện pháp thuế khóa. Năm 1874, năm đầu tiên, chúng đã thu được 75.000 đồng bạc1 thuế đánh vào các tàu ra vào cảng.
Đến năm sau (1875), Pháp đưa ra “Đạo luật quan thuế” bảo đảm độc quyền cảng Hải Phòng. Đồng thời ra sức đẩy mạnh việc buôn bán qua cảng để kiếm lời. Năm 1876, qua cảng Hải Phòng đã nhập 46 vạn frăng/vàng và xuất 28 vạn 5.000 frăng/vàng hàng hóa (chiếm 4/5 tổng số xuất nhập khẩu của toàn xứ Bắc Kỳ) [69, tr. Đến năm 1877, mảnh đất 5 mẫu trở nên chật hẹp.
Viên lãnh sự Pháp P. Turc điều đình với tổng đốc Hải Dương Phạm Phú Thứ cho nới rộng tới 20 mẫu. Sau thập niên 80 của thế kỷ XIX, Pháp tiến hành đánh chiếm Bắc Kỳ. Cuộc đổ quân vào xâm chiếm Bắc Kỳ đến đâu thì Hải Phòng sầm uất đến đấy.
Lúc đó, giá tiêu thụ các loại hàng hoá trở nên đắt đỏ tới mức người Việt Nam bị tước đoạt dần những quyền tiêu dùng sản phẩm của chính nước mình[28, tr. Công trình đầu tiên mà thực dân Pháp xây dựng là một hệ thống nhà kho gồm 6 kho lớn (gọi là bến 6 kho). Mỗi kho có kích thước 81,5m x 24,5m. Công trình xây dựng 6 kho được khởi công năm 1883 và hoàn thành vào năm 1888.
Hệ thống nhà kho được tiếp tục mở rộng vào những năm sau đó. Khi phát xít Nhật chiếm cảng, tổng cộng hệ thống nhà kho có diện tích 40.000 m2 sân bãi lộ thiên để chứa những mặt hàng lớn. Việc xây dựng hệ thống nhà kho được tiến hành đồng thời với hệ thống cầu nổi. Năm 1888, hệ thống cầu nổi hoàn thành.
Về sau, do sự phát triển giao thương hàng hóa ngày càng lớn, hệ thống cầu nổi xây dựng theo kết cấu cũ trở nên không phù hợp. Vì vậy, đến năm 1891, Pháp cho xây dựng một hệ thống cầu sắt để thay thế cho hệ thống cầu nổi. Tới năm 1923, toàn 1 Đồng bạc Mễ Tây Cơ mang hình vẽ 1 cái cân (Piastre à balance) có kim lượng 0,9027 và nặng 27 grammes. 16 z cảng có 6 hệ thống cầu tàu biển, 1 cầu tàu sông và một số cầu nhỏ phụ trợ khác đã xây dựng xong.
Về mặt trang bị kỹ thuật, trong thời kỳ Pháp thuộc cảng Hải Phòng chỉ có vài chiếc cần cẩu cũ. Ngoài ra, phần lớn việc bốc vác hàng hóa là dựa vào sức người [60, tr. Năm 1880, thực dân Pháp chính thức đặt lãnh sự quán ở Hải Phòng. De Champeaux được cử làm lãnh sự.
Trong báo cáo của lãnh sự Pháp ở Hà Nội De Kecgaradec, năm 1880, dưới nhan đề “Le commerce du Port de Hai Phong”, năm đó đã có 253 tàu châu Âu ra vào với trọng tải 114.